(Kính dâng hương hồn mẹ)

 

      Ngày lễ của Mẹ sắp đến, tôi không có hoa hồng để cài áo vì Mẹ tôi đã qua đời hơn mười năm rồi. Mẹ tôi đã thật sự từ giã cõi trần nhưng hình ảnh của Mẹ xưa vẫn luôn luôn thấp thoáng ẩn hiện qua những kỷ niệm thân thương và trong những giấc mơ dịu hiền, khiến tôi nghĩ là Mẹ mình vẫn còn sống, vẫn rất gần gũi với con cái như thuở nào.

 Thuở đó, kỷ niệm xa xưa nhất, bắt đầu khi tôi lên 5-6 tuổi, đã có trí nhớ. Tôi nhớ tôi là "con bé" hay vòi vĩnh, hể mà Mẹ không chiều hay la rầy thì "con bé" giở trò khóc lẫy, không chịu ăn cơm, ra ngoài hè nằm võng, khóc nhè thêm một hồi, nếu không được ai dỗ thì ngủ thiếp đi một giấc. Khi thức dậy quên giận hờn và thấy đói bụng! Mon men vô bếp thì được Mẹ lau mặt, lau tay cho mát mẻ sạch sẽ rồi cho ăn bù toàn những món tôi ưa thích.

      Có khi ngủ lâu quá, thấy ai vuốt tóc mở mắt, thấy Mẹ đang ngồi bên với miếng bánh, chén chè hay trái ổi, trái chuối, thế là "con bé" hẩu xực nghĩ là mình lẫy cũng có lợi chứ không phải "lẫy xẩy cùi" như các anh chị thường dọa.

      Rứa là "con bé" vẫn thường dỡ trò vòi vĩnh, khóc nhè, lẫy... để được Mẹ... hối lộ quà bánh ! Ðúng là con hư tại Mẹ !   

       Tôi lại nhớ có lần tôi trèo lên cây ổi bên hông nhà ham hái trái ổi ở xa, níu một cành nhỏ, cành gãy kéo tôi rớt ngay trong một cái hồ cạn xấp nước, nhờ cành ổi thấp nên tôi không hề hấn chi, nhưng áo quần dính bùn đất bê bết. Mẹ tôi nghe tiếng động chạy vội ra. Thấy Mẹ, tôi nghĩ là mình có tội bị bắt quả tang thế nào cũng bị đòn nên sợ xanh mặt, chỉ trố mắt nhìn mẹ mà không khóc. Mẹ thấy thế nghĩ tôi đã bị mất hồn mất vía, nên vội vã đưa vô nhà lau rửa sơ sài, thay quần áo, bắt tôi nằm im. Còn Mẹ thì lật đật đi nấu một nồi xôi nhỏ, làm muối mè. Khi xôi chín thì xới ra và vắt 9 vắt, thắp 3 cây hương, rồi đặt tôi ngồi bên cái hồ cạn đó. Mẹ bắt đầu lâm râm đọc "thần chú": Hú ba hồn chín vía, con cái về với cha mẹ... hay chi chi đó...rồi đút một vắt xôi chấm muối mè cho tôi ăn lập đi lập lại 9 lần.

      Tôi chẳng hiểu mô tê chi cả. Tại răng mình ''nghịch ngợm" như rứa mà Mẹ không đánh đòn, mà còn cho ăn xôi nữa? Xôi ngon quá! Mẹ hiền quá !. Tôi ôm mẹ nói lần sau con không trèo lên cây ổi ni nữa. Mẹ nói : Ừ giỏi rứa mẹ thương ! Tôi hỏi tại răng. Mẹ nói "hú ba hồn chín vía ? Mẹ nói : Ừ con trai có bảy vía, con gái có chín vía. Hể sợ quá hồn vía bay đi mất, phải làm rứa để kêu hồn vía bay về.   Khi tôi lên 11 -12, mẹ con tôi ở Bình Thuận, phải tản cư lên Phú Bình. Tây về đóng đồn ngoài xã kêu gọi dân làng cho con đi học mà Việt Minh bảo đừng. Mỗi lần Tây đi lùng thì con nít phải đi trốn. Mẹ tôi phải nghĩ cách, rút củi ở giữa một đống củi to mà chủ nhà chất xung quanh gốc cây khế sau hè. Những thân củi to chất sát nhau nhưng cũng có những khe hở. Mẹ cẩn thận lấy lá chuối khô nhét kín các chỗ hở để bên ngoài nhìn vào không thấy. Rứa là giữa đống củi quanh gốc khế có một chỗ trống đủ cho ba chị em tôi vô ngồi trốn, có vẻ kín đáo an toàn.

      Hôm đó Tây đi lùng, chúng tôi ngồi trong đống củi nghe tiếng Tây nói xí xồ, tiếng giày lộp cộp đi ngang qua. Ba chị em tò mò muốn dòm coi ông Tây làm chi ngoài nớ, nên dại dột lôi mấy nùi lá khô ra để dòm ! Rứa là tông tích bại lộ! Lính Tây nghe sột soạt, nhìn vô loáng thoáng thấy "kẻ gian" trong đó, bèn chĩa súng lên cò lắc rắc hô to "sortez". Hồi đó tôi đã học

hết lớp nhì, hiểu là họ biểu "ra đi" nên lật đật dạ to một tiếng rồi run lập cập trèo ra, hai em trai tôi vừa khóc vừa trèo ra theo. Mẹ tôi thì mặt mày tái xanh, vái lia vái lịa : Lạy mấy ông đừng bắn con tôi tội nghiệp !

      Mấy lính Tây thấy "địch" là 3 nhóc con có lẽ cũng thất vọng và tức cười : Họ nạt nộ tại răng con nít mà trốn vô trong hầm bí mật ? Thông ngôn dịch lại rằng Mẹ tôi nói tụi tôi sợ họ. Rồi họ cũng tha cho nhưng dặn là phải ra ngoài đồn để học. Mẹ tôi mừng quá ôm các con mếu máo vừa khóc vừa cười.

      Mẹ nói nghe họ lên cò súng và nạt nộ, hồn vía mẹ bay cả lên mây... Còn mấy chị con chủ nhà thì xúm lại chế nhạo tôi. Hỏi tại sao tôi dạ giòn giã và ra lẹ vậy ? Tôi nói : em sợ họ bắn nên phải làm rứa!

      Tản cư ít lâu thì mẹ tôi bị cán bộ Việt Minh gán tội lên thành phố buôn bán là liên lạc cho Tây, làm Việt gian, đã chận bắt dọc đường, bịt mắt sắp đem chôn sống, may nhờ có một chị cháu của chủ nhà làm chức lớn bên phụ nữ bảo đảm và cứu sống. Mẹ tôi sợ quá phải dắt con trốn về Phan Thiết.

      Gia đình tôi trước 1945 cũng khá giả, nhưng sau khi Nhật đảo chánh, gia đình ly tán. Mẹ và ba con nhỏ bị kẹt lại Phan Thiết, nên mẹ phải cực khổ, tảo tần nuôi các con bằng đủ mọi cách. Một lần có người rũ đi Sài Gòn buôn bán, Mẹ cũng đi thử. Lúc về, ngoài hàng buôn bán, Mẹ lễ mễ mang về cho các con một món quà đặc biệt : một trái sầu riêng. Mẹ nói trong nớ họ nói trái ni rất đặc biệt, hơi hôi, nhưng rất ngon mà cũng đắt lắm. Mẹ muốn cho các con nếm thử món lạ của Sài Gòn. Nhìn cái vỏ ngoài gai góc xấu xí tôi đã hơi sợ rồi. Khi khui ra thì ôi thôi mùi hôi thúi xông nồng nặc. Tôi nói :" Trái ni bị hư rồi mẹ ơi !" Mẹ nói : "Không phải hư mô, mùi của hắn rứa đó!

      Họ nói ăn ngọt và béo nữa!". Tôi đưa ngón tay sờ thử và thấy mềm nhũn thì tài khôn quả quyết : "Trái ni hư thiệt rồi Vừa mềm vừa thúi". Mẹ tôi cũng không rành nên đành chịu thua và vất vô thùng rác ! thiệt là uổng công Mẹ vất vả mang nặng từ Sài Gòn về, phí tiền Mẹ bỏ ra mua một món quà quá đắt và đáng tiếc là món ăn ngon quý lại bị vất vô thùng rác ! Sau này khi biết ăn sầu riêng rồi, mỗi khi ăn càng thấy ngon thì càng nhớ lại chuyện xưa, càng ân hận và thương mẹ vô cùng !  

      Thời gian trôi qua,chúng tôi khôn lớn trưởng thành trong tình yêu thương chăm sóc của Mẹ. Bây giờ Mẹ đến tuổi già, quảng đời gian khổ lận đận đã qua. Nhờ ơn Trời Phật, các con của mẹ có điều kiện phụng dưỡng mẹ già. Mẹ vẫn thích sống giản dị không đòi hỏi con cái điều gì. Mẹ siêng đi chùa, niệm Phật. Nhà có TV thì coi hát bội, cải lương và cũng biết thưởng thức tân nhạc. Mẹ thích coi Mai Lệ Huyền, khen cô hát hay và có duyên.  

Biến cố 1975, thì mẹ cũng đúng 75 tuổi. Năm 1978, cậu em trai tôi bị tù từ trại Ái Tử ở Quảng Trị được di chuyển đến Bình Ðiền ở Thừa Thiên. Mẹ từ Sài gòn đi xe đò ra Huế, còn lặn lội đi bộ cả mấy cây số để thăm nuôi con trai. Có một điều tôi luôn tâm niệm cám ơn Trời Phật đã tạo cơ may cho tôi đưa được mẹ già sang Mỹ và có điều kiện dành trọn thời gian gần gũi, phụng dưỡng Mẹ già trong những ngày tháng cuối đời cho đến khi Mẹ hiền khuất bóng.

      Những năm tháng cuối đời, sức khỏe của Mẹ yếu kém, nhưng tinh thần của Mẹ rất thanh thản vui vẻ. Vào tuổi 86, con cháu, bà con, bạn bè đến thăm, luôn được nghe tiếng cười dòn dã của Mẹ. Ðôi khi mẹ cũng có lẩn thẩn lầm chuyện này qua chuyện kia, lầm chuyện trong quá khứ và hiện tại. Trước ngày rời Việt Nam họ bắt Mẹ đi khám sức khỏe khá rườm rà và rất phiền phức. Ðến khi qua Mỹ lại cũng phải lui tới bác sĩ nhiều lần. Mẹ than thở:

      Họ cứ khám hoài ri rồi không biết có cho đi không? Tôi hỏi : "Ði mô ?" Mẹ đáp : "Thì đi Mỹ chớ đi mô!" Tôi nói: "Thì Mẹ đã qua đến Mỹ rồi mà''. Mẹ hơi ngẩn ngơ : "Rứa à! Ừ mẹ quên ! Mà răng đã qua đây rồi mà còn đi khám hoài rứa".

      Có những chuyện xưa Mẹ nhớ rất kỹ. Mẹ thích tỉ tê kể đi kể lại nhiều lần, với đầy đủ chi tiết. Có lần Mẹ nằm bịnh viện, cô y tá săn sóc xong, Mẹ cười và nói với cô : ''Mẹc xì bà đầm'' (Merci madame). Tôi thông dịch : "Mẹ tôi cám ơn cô bằng tiếng Pháp đó. Cô y tá phục quá! Tôi nói với Mẹ

      "Tiếng Mỹ còn dễ hơn tiếng Tây. Khi mô Mẹ muốn chào thì nói Hai (Hi), còn chào từ giã thì nói Bai (Bye)". Mẹ đồng ý và chào thử liền sau đó. Có lúc Mẹ nói trúng họ chào lại vui vẻ, có khi lộn mới gặp mà đã quơ tay nói : "bai" làm họ ngẩn ngơ tưởng Mẹ muốn đuổi họ đi.

      Mẹ thường hay kể lại chuyện Mẹ nói tiếng Tây với ông công sứ Pháp. Số là ba tôi làm đốc học ở Hà Tỉnh. Thỉnh thoảng có đãi khách ăn ở nhà. Khách Tây và Ta thường tới lui nên Mẹ tôi biết mặt. Hôm đó Ba tôi có việc về Huế, thình lình ông Công Sứ đến thăm, Mẹ phải ra chào và nói : "Bông xua Me xừ Mông Me xừ bạt ti Huế "(Chào ông ông nhà tôi đi Huế rồi) công sứ hiểu liền. Bông, Bông Mẹt xi bà đầm, ô-voa'' (Bon, bon Merci madame, au revoir). Chúng tôi ôm bụng cười lăn.

      Thời gian qua Mỹ, Mẹ phải từ bỏ một số sở thích như : hút thuốc Cẩm lệ, ăn trầu, nói chuyện với bà con xóm giềng, đi xích lô đến chùa lễ Phật hay đánh tứ sắc với các bạn già trong xóm. Thoạt đầu tôi hơi lo, sợ Mẹ buồn, nhớ rồi đòi về lại Việt Nam thì nguy. Nhưng may quá, Mẹ không đòi hỏi chi hơn là được gần gũi với con cái. Mẹ biết là ở Việt Nam thì các con phải khổ vì Việt Cộng và Mẹ cũng sợ Việt Cộng vô cùng.

      Dần dà Mẹ cũng thích xem một số chương trình truyền hình Mỹ (tôi thông dịch). Mẹ thích nhất chương trình Mr. Roger's Neighborhood. Mẹ khen ông ăn nói từ tốn, hiền hòa, phúc hậu. mẹ nói khi nào đến ông cũng chào Mẹ, nhìn Mẹ nói chuyện, tuy Mẹ không hiểu nhưng cũng vui vẻ gật đầu với ông. Khi nào ra về ông cũng chào Mẹ và Mẹ cũng chào lại. Vậy là sáng nào Mẹ cũng có khách đến thăm và nói chuyện vui vẻ. Mẹ suy luận rất giản dị, hể mình thấy họ thì họ cũng phải thấy mình. Buổi chiều Mẹ thích chuyện "Ngôi Nhà Xinh Xắn Trên Ðồng Cỏ'' (The Little House On The Prairie). Mẹ khen cả gia đình ai cũng tốt, dễ thương và Mẹ thương nhất là hai vợ chồng trẻ bị mù. Có lần bật qua chương trình Sata Barbara, gặp màn cậu con trai đang tư tình với bà vợ trẻ của cha, Mẹ tôi nổi giận và mắng nhiếc : Thứ đàn bà chi mà hư thân mất nết rứa, thôi tắt máy đi đừng cho hắn nói nữa. Buổi tối thì Mẹ thích coi chú bé da đen tí hon Webster đóng rất tình cảm, duyên dáng và dễ thương. Những chương trình giáo dục và tình cảm hiền hòa rất thích hợp với Mẹ. Nhờ vậy Mẹ cũng khuây khỏa quên cảnh ly hương nơi đất khách quê người. Thỉnh thoảng có bạn bè, đồng hương đến thăm họ khen Mẹ có phước có con chăm sóc phụng dưỡng lúc tuổi già. Tôi phải đính chính lại rằng phải nói là tôi có phước nên được có cơ may phụng dưỡng mẹ già mới đúng.

      Những ngày cuối, thỉnh thoảng Mẹ bị mê sảng. Có lần mẹ lộ vẻ sợ hãi bảo tôi. "Nì con ra đóng cửa khóa thật kỹ đừng cho họ vô, họ ở ngoài đông lắm.

      Tôi an ủi : ''Con khóa hết cửa rồi ! Mẹ chắp tay niệm Phật là yên hết." Mẹ nghe lời chấp tay niệm Phật và tôi bật máy phát băng niệm Kinh A Di Ðà để sẵn trên đầu giường. Gương mặt mẹ trở lại nhẹ nhàng thanh thản đi vào giấc ngủ.  

      Mẹ êm ái vĩnh viễn rời thế tục vào chiều mồng Một Tết. Con cháu đứng bao quanh niệm Phật hộ trì tiếp dẫn. Hình ảnh Mẹ nằm trong áo quan thật tuyệt đẹp ! Áo quan màu lam, mặt trong lót sa tanh trắng đệm mousse. Mẹ mặc áo dài lụa thêu hoa gấm, chiếc áo Mẹ thích nhất, với quần sa tanh trắng. Ðầu đội mũ Quan Âm vàng, mình đắp mền Quan Minh viền đỏ. Chân mang hài cườm. Gương mặt mẹ đầy đặn tươi tắn, hồng hào, như bà Tiên dịu hiền nằm ngủ, giấc ngủ êm đềm thiên thu.  

     

      Mẹ tôi yên nghỉ trong một nghĩa trang im mát tĩnh mịch nằm gần trung tâm thành phố. Ðây là một nghĩa trang xưa cũ nên được phép đặt bia đứng và trồng hoa tươi trên mộ và tiện cho con cháu lui tới thường xuyên hương khói và thăm viếng.  

      Mẹ ơi! Nếu mẹ còn sống thì nay mẹ đã đúng 100 tuổi rồi. Thời gian càng trôi qua, con càng thương nhớ mẹ nhiều hơn, sâu đậm hơn. 

      Con thật có phước có được Mẹ là Mẹ của con.

      Trong tim con, Mẹ chưa bao giờ mất, con chưa bao giờ mất Mẹ. Kỷ niệm và những giấc mơ dịu hiền đã nuôi dưỡng Mẹ con mình luôn gần gũi nhau.

Con hẹn gặp Mẹ trong giấc ngủ tối nay./-

Ngày lễ của Mẹ năm 2000, Portland

(Đặc San Huế Xuân Tân Tỵ - 2001)

                                                                                         Trần Thị Cẩm Tuyến 

 

Tác Giả Bài Văn
Trần Thị Cẩm Tuyến