DẤU VẾT CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA

                                           MƯỜI HAI SỨ GIẢ TÔNG ĐỒ.

 

                   Tại thành phố Parur của Ân Độ, phía tây nam bang Kerala (tiểu bang nằm mỏm tuốt phía nam của lục địa Ấn), nhà thờ Thiên Chúa Giáo tên Kottakkavu với các bực thềm bằng đá sáng bóng như gương, trên tường vẽ trang trí những ngọn thông xanh, vẫn hài hòa phản chiếu qua bàn thờ bằng vàng.

                   Chung quanh cung thánh họa nhiều đám mây trên nền trời mầu xanh ngắt. Một bức tượng nhỏ ẩn trong hốc đục hẳn vào tường long lanh phản chiếu, ngay phía dưới có vẽ họa trên tường một người đàn bà, khăn trùm đầu quỳ gối im lặng, chắp tay ngay ngắn trước ngực. Tại phần chính cung thánh của nhà thờ, thấy một hộp bằng vàng đựng di vật là một mảnh xương nhỏ chừng ngón tay cái. Ngoài hộp có dán nhãn biên tiếng Anh, chỉ rõ di vật là xương Thánh St. Thomas. Theo truyền thuyết, Thánh St. Thomas là người sáng lập cho những người Công Giáo đầu tiên tại Ấn Độ năm 52 (năm mươi hai) sau công nguyên.

                   Tại Parur cũng như bang Kerala người ta có tục trang trí mặt tiền cũng như trong nhà thờ hình biểu tượng là các con thú gồm: voi, hiêu nai, công, cóc nhái, sư tử và cả hình thú như con rồng – mà hình rồng lại có thể liên tưởng ra sư tử -- chứng tỏ sự giầu có và khác biệt hẳn với đặc tính của Công Giáo phương Tây. Những bức tranh sáng lòe loẹt khắp nơi Thánh Thomas, Đức Mẹ Đồng Trinh, Chúa Jesus và Thánh St. George.

                   Tại Ấn người theo Ấn Độ Giáo cũng thờ lạy Thánh St. George, biểu tượng rồng mà họ tin là che chở cho trẻ con khỏi bị rắn độc (cobras) cắn. Còn tại nhà thờ Diamper tại Thripunithura lại có tượng Đức Mẹ Đồng Trinh đang bồng trên tay xác Chúa Jesus mới tháo xuống từ cây thập tự giá, đứng trên một mặt bằng kim loại sáng lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời.

                   Người Công Giáo của Thánh Thomas tại Kerala cũng giống những người Công Giáo khác tại Á Châu, tại Phi Châu và tại Nam Mỹ, có lòng tin độc đáo (hay cách riêng) của chính họ, dùng các nghệ thuật truyền thống, những xây cất, và những biểu tượng riêng biệt. Vì vậy có bức tượng mô tả Đức Bà Mary đứng giữa hai con voi trong rừng cọ (palm) y như trong nhà tại miền nam Ấn Độ.

                   Thomas như thường biết là một trong Mười Hai Tông Đồ, mang đi Tin Mừng tái sinh sau khi Chúa bị đóng đinh trên Thập Tự giá. Ông đã cùng các ông Peter, Andrew, James Cả (the Greater), James Nhỏ (the Lesser), John, Philip, Bartholomew, Matthew, Thaddaeus, Simon và Matthias (người thay chỗ tên phản nghịch) Judas Iscariot. Thời này người ta đã dùng danh từ Tông Đồ (apostle và apostolic là nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “apostolos” có nghĩa là người đưa tin) chung cho tất cả những ai đi rao giảng lời Chúa. Riêng trường hợp Paul, ông tự cho mình là Tông Đồ vì tự coi là đã nhìn thấy Chúa và nhận sứ mệnh từ do chính Chúa giao. Mary Magdalene cũng được coi phong là tông đồ bởi chính các Tông Đồ do Bà giữ nhiệm vụ mang tin Chúa sống lại. Thực ra chỉ có hai trong bốn người phái Phúc Âm (Evangelists) là Matthew và John mới là Tông Đồ nguyên thủy. Còn Mark và Luke cũng được coi là Tông Đồ chỉ bởi vì các ông này đã viết ra Kinh Phúc Âm Tân Ước (the New Testament Gospels).

                   Trong những năm khởi đầu sau khi Chúa bị đóng đinh trên Thập Tự giá, những người Công Giáo đầu tiên chính là những “hạt giống” cho một tôn giáo hoàn toàn mới, chưa có các nghi thức, hay phương cách phụng vụ, nên những người tuân theo chỉ gọi là Đạo (the Way). Tức là thực hành những biểu tượng chứng tỏ cho lòng tin như bên Do Thái Giáo (Judaism). Peter đã thực hành cuộc hành trình đầu tiên tuyệt đẹp (champion) trong cuốn Việc Làm của Các Tông Đồ (the Acts of the Apostles), chúng ta thấy những cuộc đàm thoại, làm những phép lạ như: cho người què đứng dậy, người chết sống lại và ngay cả một người không Công Giáo (an un-Christian) đã biết mở cõi lòng trước khi chết, hào phóng phân phát cả tài sản bằng tặng phẩm cho tất cả cộng đồng.

                   Trong những ngày tháng sớm sủa này các biến động vẫn còn chưa có ý nghĩa gì nhiều, hoặc gây nên sự quan tâm rộng rãi đến những Người Công Giáo (Christians), hay chỉ có những va chạm đối với người Do Thái Giáo chính hơn là đối với Đế Quốc La Mã. Còn Đức Tin của bậc “tuẫn đạo” (martyr) theo Thánh Kinh  chính là Thánh St. Stephen, một người lãnh đạo Công Giáo trẻ tuổi, ông gây sự phẫn nộ cho cộng đồng Do Thái Giáo khi tuyên bố là Chúa sẽ trở lại và phá hủy Đền Thờ Jerusalem (the Temple of Jerusalem). Sau những lời “báng bổ” (blasphemy) như vậy vào khoảng năm ba mươi lăm (35) ông bị bắt, điệu ra khỏi thành và bị công chúng ném đá cho tới chết trong khi ông vẫn luôn miệng cầu nguyện cho mọi người. Còn người tuổi trẻ Saul, sau này chính là Paul nổi tiếng với câu chuyện trên đường tới Damacus, đã chứng kiến Stephen bị hành hình, luôn ghi nhớ trong tâm trí cảnh tượng lúc công chúng phẫn nộ ném đá.

                   Vào năm bốn mươi bốn (44) Vua Herod Agrippa I bắt bỏ tù rồi chém đầu Thánh James Cả (James the Greater) là Thánh  tử vì đạo đầu tiên. Năm sáu mươi bốn (64) khi xẩy ra vụ hỏa hoạn kinh hoàng thiêu rụi mười (10) trong mười bốn (14) khu vực của thành La Mã, thì Bạo Chúa Neron trước hết bắt kết tội những người nói xấu ông ta, mặc dù chính ông ta gây ra vụ hỏa hoạn, rồi sau nữa buộc tội luôn làn sóng các người Công Giáo (vì lúc này Đạo đang phát triển mạnh) cũng như tống giam cho án tử hình với tất cả những ai có Đức Tin trong vùng Đế Quốc.

                   Sử gia Tacitus của La Mã đã viết mô tả: “Một khối lớn rất đông người bị tuyên án, không những là tội đốt kinh thành mà còn cả tội căm thù chống nhân loại..trong đấu trường, họ bị xua ra trước đàn thú dữ, cho chó nghêu cào xé nát thây đến chết, cùng bị thiêu cháy như các cây đuốc, chiếu sáng đỏ rực toàn thành phố khi màn đêm buông xuống”. Năm một trăm mười (110) Ignatius là Giám Mục thành Antioch bị bắt bởi quân đội La Mã tại Trajan, rồi mang xuống tầu chở về La Mã, sau đó bị kết tội tử hình cho thú dữ ăn thịt để toàn công chúng xem giải trí. Thực là một thời kỳ đầy máu lửa cho người Công Giáo kéo dài suốt hai thế kỷ.

                   Truyền thống còn cho biết mười một (11) trong mười hai (12) Tông Đồ bị bách hại tuẫn đạo. Các Thánh Peter, Andrew, và Philip bị đóng đanh trên Thập Tự giá cho chết dần; các Thánh James Cả và Thaddaecus bị chém đầu; Thánh James Nhỏ bị đánh tới chết trong khi vẫn cầu nguyện cho các người đánh ông ta; riêng Thánh Bartholomew bị đánh tróc hết da đầm đìa máu rồi mới đóng đinh lên Thập Tự giá; các Thánh Thomas và Mathew bị đâm chết bằng giáo; Thánh Matthias bị ném đá tới chết; Thánh Simon bị cột lên Thập Tự giá rồi bị cưa tiếp làm hai. Chỉ riêng Thánh John sống sót trong Mươi Hai Tông Đồ và chết lành bình yên tại Ephesus vào khoảng năm một trăm (100).

                   Ngày nay Colomba Stewart một thầy tu cùng nhóm bạn là các sử ký gia của Tu Viện Thánh John thuộc bang Minesota tại Hoa Kỳ đã kể lại: “chúng tôi không tìm kiếm các cấu trúc trong hệ thống cấp bậc của nhà thờ Công Giáo từVatican. Chúng tôi chỉ muốn tìm hiểu về các Tông Đồ, với các sứ mạng truyền giáo đã làm hình thành nhiều trung tâm, đầu tiên là từ Juruselem rồi tới Antioch (tên cổ, ngày nay là tỉnh Hatay cũng thuộc miền duyên hải của giải Gaza Trung Đông, nằm phía Bắc thủ đô Damacus của nước Syria), rồi cuối cùng mới tới La Mã (Roma) mà chắc chắn đều là các Thủ Đô Công Giáo. Tại những nơi này dĩ nhiên cũng có các nhóm dân nhỏ nghèo nàn, họ thường chỉ trích kết án những người mà họ nhắm vào vì một vài mục đích nào đó”.

                   Các Tông Đồ với những cuộc hành trình gian khổ đi rao giảng Lời Chúa kéo theo bước chân của họ là việc giao thương, đã gây dựng làm nên các cộng đồng người Công Giáo suốt thế giới cổ xưa. Steward bảo: “Mục tiêu chính là chúng tôi muốn nghiên cứu về đời sống của các Tông Đồ, công việc cũng khó khăn y như dùng viễn vọng kính thiên văn Hubble tìm kiếm các thiên hà xa thẳm từ khi có vụ Nổ Lớn Big Bang khởi đầu vũ trụ, mà từ đây cũng chính là vụ nổ của Cộng Đồng Công Giáo từ Jerusalem tỏa ra đến tất cả bất cứ nơi nào có thể tới được của thế giới này.”

                   Thánh Thomas đi về phía Đông, qua vùng mà ngày nay là Syria và Ba Tư (Iran) và nhiều sử gia cũng tin tưởng là Thánh cũng đã hướng xuống phía Nam để vào hẳn nước Ấn Độ. Thánh đã đi xa hơn cả Paul là người đã chịu đựng không mệt mỏi cho cuộc hành trình qua biển Địa Trung Hải. Nếu kể riêng trong các Tông Đồ, thì phải nói chính Thánh Thomas là người đã mang Lời Chúa đi truyền bá giảng giải cho Dân Công Giáo tới tại những vùng xa xôi nhất có thể đi đến trên thế gian này.

                   Thánh Mark Tin Lành cũng mang Tin Mừng Lời Chúa đi rao giảng tại Ai Cập và đặt nền móng tại nơi đây cho Đức Tin Coptic. Nhưng đối với một số Người Công Giáo, thì Thánh Mark biểu tượng cho một Vị Thánh có khuynh hướng chính trị, có uy quyền đối với cộng đồng Thành Venice. Ngoài bộ mặt trên, Thánh còn gây một sự thu hút mãnh liệt cho Đức Tin cho dân chúng Thành Venice đến ngày nay, cũng nhưWashington và Lincoln đã đặt nền móng cho nền dân chủ mà hiện tại còn đang được ấp ủ rất phổ biến trong lòng hầu hết công dân của nước Mỹ vậy.

                   Nếu Thánh Thomas là biểu tượng cho việc truyền giáo và Thánh Mark là căn bản cho chính trị thì Thánh Mary Magdalene lại là gương sáng cho các Thánh, gắn liền với hồng ân cùng với sự  nhập thế thiêng liêng. Còn các Nữ Thánh khác như Thánh Therese tại Lisieux, Thánh Teresa tại Avila, cùng có chung nhiệm vụ trong Giáo Hội Công Giáo, nhưng không gây nên nhiều cảm hứng mạnh cũng như trong trí tưởng tượng mọi người, hoặc gây những khác biệt như Thánh Mary Magdalene. Vì một trong các điều xấu xa mà chuyện kể là chính Thánh Nữ này lại là một gái điếm hoàn lương, nhưng cũng là một trong các Thánh gần cận kề bên Chúa.

                   Mặc dù truyền thuyết nói rằng Thánh chết tại Ephesus (Thổ Nhĩ Kỳ) nhiều nguồn tin khác lại nói Thánh đã đi vượt khỏi vùng Trung Đông để tới miền Nam nước Pháp. Nhưng ngày nay nhiều chứng cứ khoa học xác nhận rằng Thánh Mary Magdalene tới miền đồi núi Provence cũng như Thánh Thomas chết tại Ấn Độ.

Mặc dù khoa học chỉ làm phân tích được tới mức độ chính xác như mảnh xương là thuộc giới tính nào (đàn ông hay đàn bà) hoặc thời điểm (niên đại) của xương. Thế nhưng khảo cổ học vẫn cho nhiều kiểm tra trắc nghiệm trên các bản thảo về lịch sử của các Thánh, mặc dù vẫn còn khó chứng minh. Thực tế thì việc tìm kiếm dấu tích các Thánh một cách khoa học còn rất hạn chế, chứng tích của các Người Công Giáo Đầu Tiên này vẫn chỉ mang những Bộ Mặt truyền thuyết bởi vì họ đã chết cách nay 2.000 năm rồi.

                   Nhiều sử gia tin rằng Thánh Thomas đi bộ dọc theo bờ biển (cây) cọ cho mãi tới Kerala mà tên ngày nay là Cranganore tại  nước Ấn Độ. Rồi Thánh cũng tường trình về việc dựng nên bẩy (7) nhà thờ tại Kerala, và bị bách hại trở thành tuẫn đạo vào hai chục năm sau ở phần đất khác là Mylapore cũng tại nước này, bây giờ gần Chennai. Chính tại Nhà Thờ Palayur ở Guruvayur là nơi mà Thánh Thomas đã dựng cây Thánh Giá đầu tiên tại Ấn Độ và làm những phép lạ: Khi Thánh tình cờ gặp nhóm người Brahmans trên đường, ngài phun nước lên không trung như một nghi thức và bảo đáng nhẽ nước phải rơi xuống theo ý của Thần Thánh. Thế nhưng ngược lại khi Thánh Thomas ngậm và phun một ngụm nước lên trời các giọt nước bừng sáng long lanh thành một đóa hoa trắng, trong khi phần nước còn lại đã tự biến mất tiêu.

                   Người hướng dẫn du lịch của chúng tôi là Columba Stewart và Ignatius Payyappilly đến từ Kochi tại Kerala cũng đã từng có những “liên hệ” cá nhân với Thánh Thomas như sau: Họ kể là bà ngoại đã cho biết chính anh ta và mẹ, kể như chết rồi ngay khi sanh anh ta, nhưng bà ngoại đã phải trải qua một lúc gần như mê không biết gì, và trong thời gian vô thức này bà đã gặp được Thánh Thomas, cầu nguyện nơi Ngài để rồi cuối cùng: ”Chúng tôi đã được hồi sinh như phép lạ”.

                   Steward hiện nay là Giám Đốc Điều Hành Hill Museum & Manuscript Library (Bảo Tàng & Thư Viện Các Bản Thảo Viết Tay) của Tu Viện, họ có bổn phận phải dìn giữ thu nhận tất cả những bản viết này ở trên toàn thế giới kể từ năm 1960. Riêng về Payyappilly cùng một nhóm cộng sự viên trẻ còn phải cố gắng vào data máy điện toán cả ngàn bản viết tay hoặc trên giấy hoặc trên lá cọ (palm). Và họ đã phải nỗ lực chạy đua với cả khí hậu ẩm ướt vì nó sẽ hủy hoại nhanh chóng mọi dấu tích cổ xưa quý giá này. Từ năm 2006 cả toán đã tồn trữ được đến 12 terabytes, nghĩa là hàng triệu trang tài liệu kể cả những trang viết ra từ 1291, tất cả những chứng từ này rất cần thiết vì chính nó giữ dìn Đức Tin của Người Công Giáo đối với Thánh Thomas.

                   Tại Ấn Độ Thánh Thomas được coi như một vị truyền giáo dũng cảm. Nhưng đối với phương Tây Thánh đã phải có cuộc đấu tranh gay go với nhiều người để cho họ có được một Đức Tin mà họ luôn nghi ngờ. Steward bảo: “ Biểu tượng về ThánhThomas vẫn hãy còn là một sự hoài nghi về Thomas. Đây có một chút lấn cấn, không phải là chuyện sống lại (Phục Sinh) của Chúa Jesus nhưng lại là sự việc tình cờ Thánh đã gặp Chúa sống lại để cho câu chuyện Phục Sinh thành sự thực. Vì vậy chúng ta có thể nói Thánh chỉ là một Thánh Thomas “thực dụng” (pragmatic) hay một Thánh Thomas “pháp lý” (forensic). Vì chính Thánh đã thốt ra: “Tôi phải được đặt các ngón tay của tôi vào vết thương trên Thánh Thể Chúa tôi mới Tin.” Đây đúng là kinh nghiệm mà Thánh coi như cần thiết cho Đức Tin rất đáng ngạc nhiên.

                   Câu chuyện về Thánh Thomas có thể ví như “hai- cạnh- sắc” của thanh gươm trong lịch sử Đức Tin Công Giáo. Đối với một số nhà thần học thì một mặt chuyện nghi ngờ của Thánh chỉ là chuyện tự nhiên thông thường, nói lên sự không chắc của ông đối với sự việc hoặc nếu không muốn nói là chính ông cũng đã từng nhấn mạnh rõ nét đến chuyện phải có nghi ngại trong việc này trong xét đoán của cả triệu người. Thánh Thomas đã muốn vinh danh vết thương của Chúa một cách có ý nghĩa trong Đức Tin. Mặt khác câu chuyện nghi ngờ của Thánh cũng đã không thấy kể ở bất cứ Tông Đồ nào nữa, nên đã không thể làm giảm đi Đức Tin của những ai khác. Vì vậy nên trong sách Phúc Âm viết bởi Thánh John, chính Chúa đã thành thực bảo với Thomas: “Thomas, vì người thấy ta nên người mới tin. Nhưng phước cho những ai không thấy mà tin, đó mới chính là Đức Tin”.

                   Chính câu chuyện nghi ngờ trên của Thánh Thomas cũng là sợi dây liên kết giữa lịch sử của Giáo Hội không những tại Kerala mà còn trong toàn vùng Địa Trung Hải, và nhất là trong thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội. Không giống như những sứ bộ truyền giáo khác ở các cộng đồng toàn Á Châu, người Công Giáo theo Thánh Thomas tin là chính ông mới là người gần gũi Chúa nhất và coi ông như biểu tượng cho tinh thần của Giáo Hội. Steward bảo: “Tại đây có xây dựng nhiều nhà thờ Tông Đồ mà chúng gần như là linh hồn cho Đức Tin của Người Công Giáo”.

                   Còn Thánh Mark thì lại gắn liền với niềm kiêu hãnh của một quảng trường thành phố mà không sử gia nào không nhắc tới: đó là Thành Phố Venice cùng Thánh Quan Thầy của nó. Quảng trường cũng là trung tâm với dẫy cột pháp đình La Mã gắn liền cùng Đức Tin cổ xưa. Biểu tượng của Thánh Mark chính là các con sư tử dùng móng vuốt dở các trang sách Phúc Âm Tân Ước đầy dẫy quanh quảng trường. Đối với dân thành Venice trong thế kỷ thứ chín (9) và sau nữa khẩu hiệu “Viva San Marco” (Thánh Marco bất diệt muôn năm) cùng tiếng la khóc đã gắn liền Thánh Marco với những người Công Giáo đầu tiên chính là nền tảng cho nền Cộng Hòa Venice (Venetian Republic). Truyền thống cũng cho chúng ta biết Thánh Mark chết tử đạo tại Alexandria Ai Cập. Thế nhưng làm sao Thánh lại giữ một vị trí quan trọng tại một Thành Phố phương Tây như Venice?

                   Tại Ý Đại Lợi trong thế kỷ thứ chín đã tự sắp xếp để có một sự cân bằng giữa một “quyền lực trẻ” đang lên dùng kiềm chế quân đội, do đó thần quyền tôn giáo được coi là chính để giới hạn  chính quyền quân sự. Lại nữa câu chuyện kể để có một Vị Thánh làm Quan Thầy cho Thành Phố, làm cân bằng với Thánh Theodore là một Ông Thánh vĩ đại, người ta đã phải tôn xưng thêm một trợ thủ đắc lực nữa về chính trị. Năm tám trăm hai mươi tám (828) theo lệnh của phán quan, hai thương nhân người Venice tên là Bono da Malamocco và Rustino da Torcello đã đánh cắp các di tích của Thánh Mark trong ngôi mộ Ngài tại Alexandria hoặc đã lường gạt từ một số tín đồ của Ngài. Rồi bọn gian thương đã dấu xương của Thánh trong một bịch gói kín mang xuống tầu, bên trên thì phủ bằng thịt heo (lợn), muốn qua mặt giới quan thuế (theo Đạo Hồi) không giám đụng tới thịt heo. Vì vậy nên khi bọn kiểm soát tại hải cảng chặn bọn ăn cắp khám xét cái bị thì đã kêu lên rầm rĩ: ”Kanzir! Kanzir!” (Kanzir tiếng Ả Rập nghĩa là “heo”) chuyện kể này đã gây nên bối rối cho dân chúng Thành Venice. Tiếp theo câu chuyện là chuyến tầu chở di tích Thánh Mark về gần đến bờ biển Hy Lạp thì bị một cơn bão lớn nổi lên trên biển cả, cũng chính nhờ di tích của Thánh (mà bọn họ kêu là thức ăn cho heo (lợn) trên tầu này), đã làm tan biến cơn bão và sóng yên biển lặng trở lại. Đây cũng là câu chuyện trùng hợp với thời gian thành lập Tin Lành cùng di tích cho nền Cộng Hòa Venice đồng thời với Giáo Hội Công Giáo tại La Mã của Thánh Peter. Đây chính là một sự việc gây nên niềm cảm xúc sâu xa cùng gây dựng nên một quyền lực sáng chói tại Thành Venice.

                   Ngay từ những ngày đầu sớm sủa của nền Cộng Hòa, một chuyên viên về Thánh Mark của Đại Học Venice là Gherardo Ortalli đã bảo cho biết: “Thánh Mark là ngọn cờ của Thành Venice và tôi nghĩ không một điển hình về các Thánh nào khác có thể làm giảm đi giá trị của quyền lực chính trị này.” Cũng chính tại Thành Venice đã có dấu ấn của Thánh Mark như một con sư tử, rồi lan đến cả toàn Hy Lạp, đảo Crete,Cyprus rồi đến Alexandria. Chúng ta thấy dân Công Giáo Venice vẫn còn lưu giữ đồng tiền đúc “ducato” biểu tượng cho một ngọn cờ khác của Thánh Mark đối với các pháp quan Thành này.

                   Thế còn các di tích của Thánh là gì? Liệu các di tích đó có đúng trong quan tài của Thánh Mark không? Liệu hộp sọ (skull) ở Alexandria mà người Tin Lành hiện lưu giữ có phải cũng là của Thánh không? Cũng phải kể di tích khác như một mẩu xương của Thánh Mark (?) mà năm 1968 Ai Cập đã trao trả về lại Vatican có phải (để xin lỗi cho việc đánh cắp từ thế kỷ thứ chín) cũng chính là của Thánh Mark không? Cũng như bất cứ nhiều di tích khác nữa, bao gồm kể cả những mảnh xương nhỏ tại nhà thờ Kerala như đã kể từ đầu bài, liệu tất cả có đúng chính là các xương của Thánh Thomas và Thánh Mark hay không?

                   Ortalli bảo: “Có phải đúng sự thực đó là xương của các Thánh hay không, không được coi là quan trọng bởi vì quan niệm của thời Trung Cổ rất khác bây giờ. Họ cũng coi là không quan trọng ngay cả khi nói Thánh có tới năm mươi (50) ngón tay.”

                   Thế nhưng ngày nay nhiều khoa học gia, dù kẻ không có Đức Tin hay có Đức Tin đều đồng ý khi bảo Thánh Thomas có năm chục ngón tay đã là một “vấn đề” hay nghi vấn rồi. Ngay cả Giáo Hội Công Giáo cũng phải kêu gọi nhiều nghiên cứu gia xét lại vấn đề này, xem lại từ niên đại của xương cho đến những vật dụng gì lưu giữ thuộc về các Thánh.

                   Khoa học gia Ezio Fulcheri tại Genoa là một người Công Giáo đã cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác từ mấy chục năm nay đang ra sức tìm tòi sự thực về những di tích của các Thánh. Họ đang truy cứu nhiều di tích của nhiều Thánh như của John Thập Tự Giá (John of the Cross), Clare tại Assisi là bạn của Thánh Francis. Còn Fulcheri thì lại bảo: “Chúng tôi đang đi tìm cả những di tích dù không xác thực, nhưng chúng tôi vẫn cần biết rõ, vì Nhà Thờ không muốn những di tích giả tạo lại được tôn xưng.”

                   Làm sao chúng ta có thể kiểm tra lại tất cả các di tích như của Thánh Mark? Rồi tất cả các khoa học gia, cùng các nhà nghiên cứu đều đã được Giáo Hội Công Giáo kêu gọi dù là có thành công hay không, nhưng cần phải có kết luận khoa học về tất cả những gì là di tích trong quan tài của Thánh Mark. Rõ ràng là Nhà Thờ không được lợi lộc gì nhưng lại mất rất nhiều trong việc kiểm tra toàn bộ các xương của Thánh Mark vì điều này rất quan trọng trong thời gian và thời đại ngày nay.

                   Không phải tất cả các khoa học gia đều háo hức trong công việc khó khăn nghiên cứu các di tích thiêng liêng này. Như nhà khảo cổ học Giorgio Filippi là người đượcVatican giao dùng cũng bảo với tôi là ông chống đối chuyện khảo sát những di tích của Thánh Mark được Đức Giáo Hoàng kêu gọi năm 2009. Ông bảo: “ Thỏa mãn sự tò mò không thể chứng minh cho các nghiên cứu này được. Nếu quan tài lại trống không thì sao? hoặc nếu thấy hai xác đàn ông hoặc một xác đàn bà thì sao? Tại sao tự nhiên lại muốn mở hầm mộ của Thánh Mark ra? Tôi sẽ không hiện diện trong công việc này”. Dù chỉ đục một lỗ bằng ngón tay để lấy ra hoặc một mẩu xương, hoặc một miếng trầm hương đỏ, hoặc một miếng vải vàng, hoặc một đoạn chỉ thêu xanh, rồi mang cho phòng xét nghiệm phân tích xem đó là thuộc thế kỷ thứ nhất hay thế kỷ thứ hai? Tất cả những điều đó không thể mang tới kết luận hay tin tức gì tôn xưng cho Đức Tin, đấy là không kể nếu kết luận lại là thuộc về thế kỷ thứ tư, bởi vì thêm nữa, thí dụ chỉ những gì từ thế kỷ thứ nhất mới có thể nói là thuộc về Thánh Paul thôi.

                   Dù khoa học có tiến bộ đến đâu đi nữa và các xét nghiệm chi tiết đến đâu chăng nữa cũng không thể kết luận, và cũng chỉ gần đến sự thực, vì đời người quá ngắn so với lịch sử, vì theo Tarsus thì nơi sanh của Thánh Paul là bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ.  

                   Tôi bảo với Ortalli là hãy để chuyện xương của Thánh Mark sang một bên trong việc dân Thành Venice luôn cầu nguyện với Thánh. Anh bảo: “Tốt nhất là hãy luôn cầu nguyện thẳng với Đức Mẹ Đồng Trinh và với Đức Chúa. Bởi vì chuyện Thánh Mark chỉ làm rắc rối thêm, ngoài chuyện hầm mộ, chúng ta khó kiếm ra chỗ nào thật đúng để đặt cây nến cầu nguyện với Thánh Mark nếu quá câu nệ.” Cả những người Công Giáo lẫn người Chính Thống Giáo đều tin là ánh sáng của ngọn nến sẽ dẫn dắt lời của người cầu nguyện đến thẳng với các Thánh hơn là những bức tượng hay là những di tích của các Thánh.

                   Ortalli còn bảo: “Thánh Mark gắn bó chặt chẽ với người Công Giáo Thành Venice. Họ nghĩ là khi anh có hai chân, là anh cũng giống Thánh Mark rồi.” Người già tại Thành Venice thường hay nhâm nhi rượu cho tới khuya rồi nghêu ngao hát “Viva Venezia, viva San Marco, viva le glorie delnostro leon” (Hoan hô Thành Venice, hoan hô Thánh Mark, hoan hô sự toàn thắng quang vinh). Ngay cả khi Cộng Hòa Venice bị xâm chiếm tan rã bởi đoàn quân Napoleon thì người ta cũng không chịu hô “Tự do bất diệt” hay “Nền Cộng Hòa bất diệt” mà người ta lại chỉ hô “Thánh Mark Bất Diệt” (Viva San Marco).

                   Lại kể chuyện miền Aix-en-Provence tại Pháp, trước rặng núi của một thung lũng rừng cây hoang vu bát ngát, có hang tên Sainte-Baume. Theo truyền thuyết của người Công Giáo thì bà Mary Magdalene sống ba chục (30) năm cuối đời tại đây. Rời khỏi bãi đậu xe, bạn sẽ phải lần băng qua một khoảng rừng thưa mới tới được hang, trong đó có một tu viện nhỏ. Ngay cả vào những buổi sáng đẹp trời tháng sáu (June) không khí trong hang cũng luôn luôn lạnh lẽo hơn bên ngoài rất nhiều. Nhờ ánh sáng tỏa ra lung linh từ các cây nến gắn trên một phiến đá trong hang, chúng ta sẽ thấy được tượng Mẹ Mary Magdalene tại động hãy còn nguyên thủy với thành vách khúc khủy. Trong đó cũng còn hai di tích của Thánh Nữ là một lọn tóc và một mẩu xương ống chân đã đen kịt, đặt trong hòm Thánh mạ vàng.

                   Sau này tôi có tiếp chuyện với một giáo sư chuyên viên về Kinh Thánh Tân Ước tên Candida Moss, cô là người Công Giáo tòng sự tại Đại Học Notre Dame (University Notre Dame). Thế nhưng cô Moss lại thích nghiên cứu về các Thánh Tử Đạo cổ xưa. Tôi cũng hỏi cô là liệu những nghiên cứu này sẽ giúp một phần cho khoa tâm lý trong việc đi tìm các di tích chăng. Cô lại bảo tôi rằng: “Đối với nhiều người thì cho rằng đi tìm di tích là một tiến trình gây đau lòng. Thí dụ như khi Mẹ tôi chết, bà ấy cho bọn tôi mỗi đứa một lọn tóc giữ làm kỷ niệm, và khi tôi chết chắc tôi cũng sẽ làm vậy. Thế nhưng theo tôi nghĩ thì có phần nhiều người, cũng như trong một số cộng đồng Công Giáo, cho là hàng con cháu sẽ giữ lưu niệm những gì mà người thân trực tiếp giao lại trước khi mãn phần, một vài vật dụng trước đây họ yêu thích.

                   Trong hang Sainte-Baume tôi ngồi trên ghế dành riêng suốt Thánh Lễ, ráng bắt chuyện với một nhóm người hành hương, gồm nhiều học sinh người Pháp rất vui vẻ, bận áo ngắn tay mặc dù thời tiết còn lạnh. Sau đó tôi lại tiếp chuyện với các Cha Thomas Michelet và Francois Le Hegaret là các vị phụ trách Kinh Chầu. Ngồi gần tôi cũng là cô Angela Rinaldi là một cư dân Công Gíao chăm chỉ đi chầu đều đặn suốt từ năm 2001.

                   Nhưng đây là lần đầu tiên Cô Rinaldi theo một người bạn đến Sainte-Baume này, không phải vì muốn tìm ý nghĩa cho một tín đồ Công Giáo, nhưng là vì tìm thanh danh của nhiều giáo sĩ trong thời buổi Tân Tiến rất thực dụng ngày nay. Cũng theo truyền thống địa phương thì hang động dài này cũng là nơi dùng cho một số người hành hương theo tà thuyết tìm đến do biểu tượng là làm nẩy nở khả năng sinh sản cho người nữ. Phần khác Đức Tin Công Giáo của chính cô Rinaldi có từ thời niên thiếu lại được tái khẳng định thêm nữa trong cuộc hành hương khi cô tìm vào một tiệm sách nhỏ bán kinh sách mua đồ lưu niệm.

                   Tôi hỏi cô có cảm nhận gì về việc Mẹ Mary tới hang Sainte Baume này không? Cô nói: “Lúc khởi đầu tôi cũng ráng làm so sánh xem mình tới đây có khác gì Mẹ Mary không, vì suốt đời tôi cũng muốn đi tìm “một cái gì”. Như một tình yêu quảng đại, một tình yêu có lẽ khác hẳn cái nghĩa thông thường mà mọi người hiểu, tôi nghĩ vậy, nghĩa là một tình yêu có tầm vóc thiêng liêng.

                   Rồi cô tiếp: “Nhưng thực sự có một ái lực (force) nào đó phảng phất trong cả khu rừng chứ không phải riêng trong hang. Một cái gì rõ ràng chỉ rõ ra là phải có sự hiện diện của Mẹ Mary Magdalene như trong Kinh Thánh. Như là một năng lực nào đó ngay trước mặt mình, mà tôi không thể giải nghĩa hay nói rõ ra được.” Sau đó cô cười và bảo ngay sự im lặng trong hang cũng cho ta cảm nhận ra có một sức sống.

                   Cái hang này đã được phát hiện và chăm sóc bởi tín đồ trong phái Dominican Order từ năm 1295. Trong buổi sớm hôm ngày thăm viếng này tôi đã gặp Michelet và Le Hegaret rồi dùng bữa ăn trưa trong một phòng ăn trang trí theo kiểu cổ của tu viện. Qua các cửa sổ trên cao tôi có thể ngắm thấy toàn cảnh khu rừng trước mặt cùng cánh đồng trải dài theo thung lũng hãy còn sương mù phủ nhạt trong ánh sáng ban mai.

                   Michelet kể: “Ngay sau Đức Mẹ Đồng Trinh là Mẹ Mary Magdalene, Bà cũng là một Người Nữ quan trọng trong Kinh Tân Ước. Trong đó nói rất ít về Bà bởi vì bà tự coi mình là một kẻ có tội, nhưng đã lại được Đức Chúa chọn để làm người chứng cho sự sống lại (Phục Sinh). Đức Chúa không chọn một Tông Đồ (hay một Thánh Tử Đạo) hay ngay cả Đức Mẹ Đồng Trinh mà chọn Mẹ Mary Magdalene. Tại sao? Có lẽ vì Bà là người đầu tiên xin Ân Cứu Chuộc. Đó cũng không phải là việc của Thánh Peter, Michelet giải nghĩa, vì Thánh Peter đã làm nổi danh một phép lạ và là khối đá làm nền tảng cho Nhà Thờ Giáo Hội Công Giáo rồi. Vì vậy đây phải là thời điểm của Mẹ Mary Magdalene.

                   Chính trong Kinh Tân Ước Mẹ là chứng nhân cho việc Đức Chúa sống lại gây tranh cãi trong nhiều thế kỷ. Trong bản Kinh của Thánh John, ba ngày sau khi Đức Chúa được chôn cất, Mẹ Mary Magdalene là người đầu tiên tới thăm viếng nhà mồ, khi đó “tất cả đều tăm tối” và Mẹ đã chứng kiến thấy là hòn đá chặn nhà mồ được rời đi rất khác thường. Chính Mẹ chạy đi tìm các môn đệ hay các tông đồ của Đức Chúa, mọi người cùng Mẹ trở lại coi thì rõ ràng nhà mồ đang trống rỗng. Kinh Thánh kể tiếp: các tông đồ sau đó ai về nhà nấy. Riêng Mẹ Mary vẫn đứng bên ngoài nhà mồ mà khóc. Mẹ đứng cũng y như lúc đứng dưới chân Thánh Giá. Khi Mẹ chăm chú nhìn vào ngôi mộ đá, Mẹ thấy hai thiên thần bay tới ngay nơi Thánh Thể Chúa rồi hỏi: “Người Nữ tại sao ngươi khóc!” Mẹ trả lời: “Tại vì người ta đã đem Chúa của tôi đi”. Kinh Thánh còn viết tiếp: Không biết người ta đã đặt Ngài nằm ở đâu, nhưng rồi ngay sau đó đã thấy Chúa đứng trước mặt Mẹ.

                   Chính câu chuyện trên đã khiến Mẹ Mary Magdalene tìm đến sống ba thập kỷ ngay tại hang Providencenày. Rồi hang cũng được coi như nơi biểu tượng của Sự Xám Hối (Penitence), anh Le Hegaret kể tiếp: “Vì vậy tu viện giòng khổ hạnh được xây cất nên tại đây và mùa đông rất ít người lai vãng tới, tất cả đường xá đều đóng băng, nếu nghĩ một cách dản dị.” Anh lẩm bẩm thêm trong miệng là: “Có một cách ngôn của dân chúng trong vùng là các người tu trong giòngProvidence thì hoặc đều là các người điên, hoặc đều là các Thánh.” Một người Công Giáo khác tên Vacquie còn cho biết khu rừng Sainte-Baume cũng chính là một biểu tượng cho địa phương suốt từ lâu rồi.

                   Tôi tiếp tục đi coi thăm thú tất cả những hang nhỏ trong dẫy núi, đó là nơi mà người tiền sử Neanderthals đã sinh sống từ khoảng 150.000 năm trước. Có một hang giống y như hình bộ phận sinh dục của một người nữ, và người tiền sử cũng đã tin tưởng là chính hang này tượng trưng cho sự sinh sản của đàn bà. Họ cũng nghĩ là người Neanderthals đã từng thờ cúng cầu xin khả năng sinh nở cho người nữ tại hang này hằng cả mười ngàn năm trước khi Mẹ Mary Magdalene đến tu nơi đây.

                   Ngày nay hang được xếp loại di tích được bảo vệ bởi chính quyền vì hang cũng là nơi mà rừng nguyên sinh phát triển và là nơi thiêng liêng. Vaquie kể tiếp: “Đây cũng là một hang động được nhiều người tới cầu nguyện nhất, ai sẽ tình nguyện làm người giữ vườn, giữ hang cho Mẹ Mary Magdalene đây”. Ngay cả khu rừng và hang đều được mọi người tin tưởng là có liên hệ ràng buộc với sự sinh sản, vì vậy mà không ít các bà các cô tới cầu nguyện cho sinh con. Tới ngày nay thì có rất nhiều bà nhiều cô đã tới cọ cà bụng vào tượng Mẹ Mary Magdalene để cầu nguyện, mặc dù là chuyện cọ cà này không được Nhà Thờ khuyến khích. Le Hegaret kể tiếp: “Thế nhưng dĩ nhiên chúng ta lại rất khó ngăn cản chuyện này”. Chúng ta đã thấy họ mang tới gắn đầy trong hang các tấm bảng tạ ơn “Cảm ơn Mẹ Mary Magdalene đã phù trợ cho con gái tôi.” Hoặc bạn có thể đọc một bảng khác bằng tiếng Pháp gắn từ Tháng Mười 1860 “Merci pour Marion”.

                   Giòng Dominicans cũng xây một hệ thống khách sạn ngay chân dẫy núi của vùng Sainte-Baume để tiếp đón những người hành hương, sinh viên, nghiên cứu sinh và khách du lịch. Tôi gặp và tiếp chuyện với một người tên Marie-Ollivier Guillon, ông trước kia là một thủy thủ, từng là tuyên úy cho lực lượng tầu ngầm (submarines) của Pháp trong bốn năm, trước khi được trở về đây làm việc từ hai năm nay. Ông bảo: “Riêng đối với tôi, Mẹ Mary Magdalene là Một Thánh Nữ của Tình Yêu và Mẹ cũng là một Người Nữ vô cùng can đảm, vì Mẹ là người duy nhất đã đứng lại dưới chân Thánh Giá, trong khi mọi người khác đều đã chạy về nhà, Mẹ sẵn sàng chết cho Đức Chúa, cũng có nghĩa Mẹ đã là một biểu tượng cho Đời Sống Tôn Giáo của chúng ta.

                    Trước khi kết thúc chuyến hành hương rời hang Sainte-Baume về nhà, tôi leo hẳn vào trong, trèo lên các bậc tam cấp, đến hẳn tấm đá mà Mẹ Mary Magdalene đã từng nằm ngủ, đó là nơi duy nhất khô ráo trong hang. Tôi cũng là người khách hành hương cuối cùng còn lại: nhìn bên ngoài, sương mù còn cuốn trong gió. Tôi lơ đãng trà tay trên tấm đá nguyện cầu, hang hoàn toàn vắng lặng, chỉ nghe tiếng nước róc rách chảy trên bồn chứa nứơc, tưởng như đang được các Thánh ban phép lành. Khi tôi thắc mắc hỏi Thomas Michelet là liệu Mẹ Mary Magdalene có tới Providence thực không, anh trả lời: “Có một khách hành hương đã từng qua đây cả chục năm, tuy nhiên cũng ông ta cũng không giám khẳng định là Mẹ Mary Magdalene có thực sự tới đây hồi thế kỷ thứ nhất hay không, tuy nhiên điều đó chắc chắn không quan trọng rồi, điều quan trọng là Mẹ đang hiện diện nơi đây ngay lúc này.”

                     

 

Tác Giả Bài Văn
Bùi Trọng Căn