Đ I   T Ì M  N H Ữ N G  G Ì  C H Ư A  B I Ế T.

 

                        Nếu kể chuyện đi tìm sáng kiến hay những điều gì chưa biết thì ta phải kể đến một nhân vật ở Phương Đông nhưng có đấu óc giống y như người Phương Tây tức thích đi tìm những gì chưa biết, rồi hệ thống hóa lại y như các phát minh của khoa học gia Phương Tây thời cận đại. Người đó thực lạ lùng mà nhà bác học Tư Mã Thiên của Tầu phải viết kể lại trong một chương riêng trong cuốn Sử Ký, ngang hàng với tất cả các Vua Chúa thời Xuân Thu Chiến Quốc.

                        Nhân vật này sanh năm 22 đời Vua Lỗ Tương Công (tức năm 550 trước công nguyên) tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ. Tổ tiên trước kia là người nước Tống tên là Khổng Phòng Thúc. Phòng Thúc sanh Bá Hạ, Bá Hạ sanh Thúc Lương Ngột, Lương Ngột khi đã sáu mươi tư tuổi (chuyện lạ thời đó) mới lấy vợ tên Nhan Thị. Hai người mãi không có con, sau đi cầu tự ở núi Ni Khâu thì sanh Khổng Tử.

                        Chuyện buồn cười nữa là trên đầu gồ lên (không giống những trẻ bình thường) nên mới đặt tên là Khâu. Khâu là cái gò, họ Khổng, tên tự là Trọng Ni. Khi mới sanh được Khổng Khâu thì Ông Thúc Lương Ngột chết, Khổng Tử cũng không biết mộ cha của mình ở đâu, mà mẹ thì kiêng (thời cổ mà) không tiết lộ chuyện này. Khi còn nhỏ đã thích chơi trò bầy đồ cúng lễ. Khi mẹ chết thì mang táng ở Ngũ Phụ, sau có một người quê đất Trâu tiết lộ cho biết mộ của cha. Rồi khi đã trưởng thành hẳn thì Khổng Tử mới hợp táng cả mộ cha và mộ mẹ về núi Phùng Sơn.

                        Chuyện kể tiếp có quan Đại Phu tên Mạnh Ly Tử có lời tiên đoán là: “Khổng Khâu là con cháu của bậc thánh nhân, vì tổ tiên bị giết ở Tống, sẽ được làm thượng khanh”. Vì vậy cho nên Nam Cung Kính Thúc mới đến học lễ với Khổng Tử. Khổng Tử người cao lớn nên ai ở chung quanh cũng lấy làm lạ. Riêng nước Lỗ đối đãi với ông tử tế nên ông về Lỗ ở. Nam Cung Kính Thúc xin với Vua Lỗ: “Xin nhà vua cho tôi cùng Khổnng Tử về đất Chu (nhà Chu). Trong chuyến về Chu này mà Khổng Tử đã được gặp Lão Tử là một triết gia nổi tiếng thới đó.

                        Khổng Tử nghèo hèn chỉ làm người coi chăn súc vật cho nhà họ Quý, vì chăm lo súc vật đẻ nhiều đông đúc nên được làm tư không. Đến khi Khổng Tử ba mươi tuổi, tham gia chuyện chọi gà giữa Quý Bình Tử và Hậu Chiêu Bá mà có tội với Lỗ Chiêu Công. Lỗ Chiêu Công mang binh đánh Quý Bình Tử nhưng thua phải chạy sang nước Tề, Khổng Tử sang Tề làm tôi tớ cho họ Cao Chiêu, được yết kiến Tề Cảnh Công, được nói chuyện với quan thái sư lo về âm nhạc, được  nghe nhạc Thiều mà say mê.

                        Sau Khổng Tử cũng được Vua Lỗ tiếp đãi kính cẩn nhưng một hôm bảo: “Tôi không thể tôn quý ông như họ Quý mà chỉ có thể đãi ông như giữa họ Quý và họ Mạnh thôi, vì nhiều quan đại phu ghét muốn giết ông”. Vì vậy Khổng Tử lại phải ra đi.

Lại kể chuyện Quý Hoàn Tử đào giếng thấy một cái vại bằng đât, trong có con vật giống con cừu, mới nói với Không Tử là tôi bắt được con chó. Trọng Ni trả lời: “theo như Khâu này thì đó là con cừu, và nói thêm: quái vật do gỗ đá sinh ra là con “quy” hay con “vong lương”, quái vật do nước sanh ra là con “rồng”, quái vật do đất sanh ra là con “phần dương” mà truyền thuyết Tầu nói là con này bắt chước được tiếng người và ăn thịt người.

                        Vì chuyện Dương Hổ bỏ tù Hoàn Tử, khinh họ Quý nên nhiều người trong triều hay lấn quyền. Từ Đại Phu trở xuống chán nản đều rời khỏi triều đình, Khổng Tử rút về nhà dậy học trò đi tìm hiểu Thi, Thư, Lễ, Nhạc là tìm những gì chưa biết rành rẽ.

                        Năm năm trăm (500) trước Công nguyên Lỗ Định Công giảng hòa với Tề Cảnh Công. Tề mời Vua Lỗ đến họp. Lúc đó Khổng Tử giữ quyền Tướng Quốc nói: “Tôi nghe nói trong nước làm việc văn phải có việc võ. Ngày xưa chư hầu ra khỏi biên giới phải có quan võ đi theo. Xin nhà vua mang theo các quan Tả Tư Mã và Hữu Tư Mã. Vua Lỗ phán: “Phải”. Bên Tề cũng cho quan bước lên phán: “Xin tấu nhạc bốn phương”

                        Khổng Tử bước tiếp lên nói: “Vua hai nước hội họp với nhau tấu nhạc Di Địch làm gì? Xin cho quan đuổi bọn nhạc công và bọn con hát đi.” Vua Tề cho tám mươi người con gái đẹp múa điệu “khang nhạc” cống sang cho Vua Lỗ. Vua Lỗ đến xem suốt ngày bỏ cả việc chính sự. Tử Lộ bảo Khổng Tử: “Thầy nên đi thôi.”.

                        Khổng Tử tới nước Trịnh, đứng một mình ở phía Đông cửa thành. Có người nước Trịnh nói với Tử Cống là: “Ở cửa Đông có người trán giống vua Nghiêu, cổ như Cao Dao,vai giống Tử Sản, từ lưng xuống giống vua Vũ, có vẻ lo lắng băn khoăn giống như con chó nhà có tang.”

                        Tử Cống kể lại với Khổng Tử. Khổng Tử mừng rỡ lắm mới cười mà rằng: “Hình dáng bên ngoài là việc vụn vặt, nhưng giống con chó nhà có tang thì đúng làm sao. Đúng làm sao.” Sau đó Khổng Tử tới nước Trần ở một năm vì có chiến tranh Vua Ngô Phù sai đánh Vua nước Việt là Câu Tiễn ở Cối Kê. Lúc đó hai nước Tần và Sở cũng tranh hùng, nước Trần cũng bị đánh phá nên Khổng Tử nói: “Ta về thôi, ta về thôi.”

                        Về đến Vệ rồi Không Tử mới kể với học trò: “Cái mà thực cứng mài cũng không mòn, cái mà thực trắng bỏ vào thuốc nhuộm cũng không đen. Ta tự ví như vỏ quả bầu, chỉ có thể treo lên mà không thể ăn (ý nói nhiều người không hiểu mình).

                        Khổng Tử gõ khánh, có người gánh sọt đi qua bảo: “Con người gõ khánh kia thực có lòng suy nghĩ, nhưng người sao mà ương ngạnh. Không ai biết mình cả thì nên bỏ mà đi thôi.” Sau Khổng Tử học đánh đàn cầm mà thầy dậy nhạc là Tương Tử, học mười ngày không tiến. Tương Tử khuyến khích: “Ông có thể tiến nữa.” Khổng Tử trả lời: “Khâu đã quen khúc nhạc, nhưng chưa nắm được cái quan hệ về số (chắc ý nói về nhịp phách). Học thêm nữa khi đã biết nhịp phách lại than: “Khâu chưa hiểu ý nghĩa sâu sắc của bản nhạc”. Một thời gian sau tiến bộ thêm khi được Tương Tử khuyến khích thì hỏi: “Khâu chưa biết người làm bản nhạc này là ai.” Tương Tử giải nghĩa: “Ông nhạc sĩ này oai nghiêm, suy nghĩ sâu, có hoài bão lớn cao xa.”

                        Tới đây Khổng Tử như chợt nhớ ra: “Khâu này đã biết ông ấy là ai rồi. Ông ta luôn lặng lẽ, mặt đen, người cao. Mắt như con cừu nhìn xa mà giống như Con Người làm Vua bốn phương, nếu không phải là Văn Vương thì ai có thể như vậy được.”

Tới đây Tương Tử rời khỏi chiếu, đứng lên lạy hai lạy nói: “Đúng, các thầy dạy nhạc vẫn kể là điệu nhạc này do Văn Vương làm ra”.

                        Còn đây là tóm lược về Khổng Tử được người phương Tây (người Anh) biên lại trong cuốn Từ Điển Bách Khoa (Encyclopedia Britanica) như sau: bao gồm từ tổ phụ cho tới cuộc đời. Thực ra không được chứng minh rõ ràng là thuộc giòng dõi quý tộc (nobility), mồ côi từ nhỏ và lớn lên trong nghèo khó.

                        Phải nói là Khổng Tử đã tự học (seff-educated) để trở nên một người có tri thức xuất sắc nhất trong thời đại của Ông. Tuy nhiên ông không coi sự học là mục tiêu lớn sâu sắc nhất, bởi vì ông đã bị chi phối rất nhiều trong các điều kiện chính trị xã hội đương thời (Xuân Thu Chiến Quốc).

                        Sau cùng là ông không có một vị trí hay địa vị để phổ biến thực hành các Tư Tưởng Uớn Nắn (phong cách phong tục tập quán), vì vậy phần lớn cuộc đời của ông là đã phải ngồi dậy một nhóm nhỏ học trò với các nguyên tắc (disciples) riêng biệt. Để rồi rõ ràng là Ông không phải là một Giáo Chủ Tôn Giáo, hay nôm na là đặt ra một tôn giáo (not a religious) theo nghĩa thông thường, nhưng chỉ là dậy về Đạo Đức Xã Hội (a social ethic). Chính ông có khuynh hứơng chỉnh sửa lại những sách cổ xưa, theo đúng cách biên tập riêng (authorship and editorship) mà thôi. Tất cả những sách này từ Thi Thư Lễ Nhạc đếu ghi những điều căn bản cho nên giáo dục của Trung Hoa suốt hai ngàn năm qua.

                        Khoảng 13, 8 tỉ năm trước hay là 400.000 năm sau Big Bang, vũ trụ còn tối đen. Nghĩa là lúc đó vũ trụ là một thể khí hoặc lỏng (plasma) gồm như các đám mây (clouds) protons có charges điện dương, trung hòa tử neutrons, và điện tử (electrons) có charges điện âm. Nếu mà nhìn thấy lúc đó thì vũ trụ như một bát súp đậu hay đám sương mù (fog) nhưng có đốm sáng. Thế rồi vũ trụ cứ trương nở cùng nguội dần để các nguyên tử khinh khí (hydrogen) hình thành, vũ trụ không “mờ sương” (fog) nữa càng ngày càng lạnh thì càng mờ rồi đen kịt, mà vũ trụ gia gọi là “thời đen tối” (dark ages) của vũ trụ.

                        Khi những ngôi sao đầu tiên bắt đầu bật sáng, ánh sáng lúc đó là các tia tử ngoại (ultraviolet) mà quang phổ cho chúng ta biết là khinh khí bắt đầu hình thành rồi có khuynh hướng hấp thụ dần. Vũ trụ nóng dần lên sáng dần ra từ chỗ lạnh và tối.

                        Sương mù tan dần nhưng tại sao tan thì vẫn là một câu hỏi thách thức với các vũ trụ gia. Có thể là do các ngôi sao đầu tiên mà ánh sáng của các sao này đã phá tan dần lớp mây cấu tạo từ nguyên tử khinh khí (hydrogene) gọi là sự ions hóa (ionization) của vũ trụ. Năng lượng của sự ions hóa này lại bắt nguồn từ một hệ thống phóng xạ (radiation) quần tụ chung quanh một lổ đen khổng lồ chăng.

                        Vấn đề chính mà chúng ta muốn biết là làm sao và khi nào thì có sự ions hóa đó, để làm cơ sở cho chúng ta tìm ra những thiên thể cổ xưa nhất của vũ trụ, cũng như hiểu ra được bản chất (nature) và nguồn gốc (origins) các thiên thể này. Khi nào thì những ngôi sao đầu tiên này bật sáng và làm cách nào mà chúng bật sáng? Rồi bằng cách nào mà các ngôi sao này lại quần tụ với nhau để hợp thành các thiên hà? Thêm nữa làm sao các thiên hà làm thành các lỗ đen tại tâm của chúng? Cũng như thời điểm nào thì các sao hợp thành thiên hà lại có lỗ đen ở tâm do sự ions hóa? Tất cả các quá trình tiến hóa đó đã xẩy ra từ từ theo một trình tự hoặc ngay lập tức.

                        Các nhà thiên văn vật lý (astrophysicists) nêu ra tất cả các câu hỏi này suốt từ năm 1960, mà mãi gần đây các thiên văn đài cùng hệ thống computers (máy điện toán nhanh nhất) mới cho một phần nào các câu trả lời đối với các câu hỏi kể trên. Các máy điện toán đã dùng các chương trình (lập trình data), tương đương trong các điều kiện như khi các ngôi sao đầu tiên của vũ trụ bật sáng, các thiên văn đài thì chiếu lang thang lên trời đi tìm những nguồn sáng (của sao) khoảng nửa tỉ năm sau Big Bang, tức là tại thời điểm của các thiên hà mới thành lập hãy còn rất trẻ (their infancy).

                        Tại sao gíám bảo là các Thiên Hà này còn trẻ, vì chúng chưa phát ra ánh sáng nhìn thấy (trong quang phổ spectre của ánh sáng trắng) mà data chỉ ghi nhận được là phát ra các ánh sáng có độ dài sóng là các X-Ray (mà thiên văn gia ghi nhận được gọi tên là các X Ray cứng (hard X Ray) hoặc là các X Ray mềm (soft X Ray).

                        Ngoài ra họ còn nghĩ là còn phải có các Thiên Hà Tối (Dark Galaxy) đây là một chuyện khác hẳn lý thuyết lúc khởi đầu: phản ứng giữa Vật Chất Thường và Phản Vật Chất (Antimatter) phối hợp rồi hủy hoại nhau, phần Dư Thừa còn lại sẽ là Vật Chất (matter) mà chúng ta hiện chứng kiến ngoài vũ trụ ngày nay. Chuyện Thiên Hà Tối (cấu tạo bởi Vật Chất Tối (tức dark matter) là giả thuyết (assumption) do quan sát thiên văn thấy Lực Hấp Dẫn Vạn Vật bị Vi Phạm trầm trọng, cho nên các thiên văn gia lại cố đặt lý thuyết và “bịa” thêm ra Vật Chất Tối cùng Thiên Hà Tối, điều cũng phải nhấn mạnh là Vật Chất Tối chỉ được biết đến do Tác Động tới Vật Chất Thường bởi một Lực.

                        Vì Vật Chất Thường có nhiễm (charge) lực Điện Từ (magno-electric) nên khoa học gia nghĩ Vất Chất Tối cũng có nhiễm lực Điện Từ Tối (Dark electromagnetism) đưa ra bởi các vị như JiJi Fan, Andrey Katz, Lisa Randall và Matthiew Reece của trường Đại Học Havard để cho ra các Nguyên Tử Tối (Dark atoms) với các đặc tính riêng của môn Hóa Học Tối (Dark chemistry) với các Phân Tử Tối (Dark molecules) và có thể nhiều Cấu Trúc Phức Tạp Tối khác nữa mà chúng ta phải nghiên cứu chứng minh.

                        Tóm lại thì các khoa học gia còn nhiều bất đồng và vẫn còn cãi nhau xem liệu Vật Chất Tối Có hay Không (dark matter exists) và hiện hữu dưới dạng nào (some form). Vẫn cần nhiều xét nghiệm liên tiếp vì cho đến nay các xét nghiệm để chứng minh Có Vật Chất Tối hãy còn thất bại (failed), tất cả vẫn còn xoay quanh vấn đề hạt WIMP (hạt này bắt đầu bằng chữ W là weak tức chúng có tác động Yếu trên Vật Chất Thường). Tất cả các data ghi nhận và lý thuyết vẫn chưa phù hợp với nhau một cách chinh xác, vì vậy mà ngay lý thuyết về Vật Chất Tối có “sống còn” (alive) được hay không vẫn còn là chuyện mà không một khoa học gia nào giám xác nhận. 

Tác Giả Bài Văn
Bùi Trọng Căn