HÀNH  HƯƠNG

 

                        Trên toàn thế giới hiện nay ước lượng có khoảng hai tỉ ba trăm triệu người có Đức Tin nơi Đức Chúa Trời. Riêng tại nước Ý Đại Lợi đã có tới 50.148 (năm mươi ngàn một trăm bốn mươi tám) Nhà Thờ được xây dựng trong mục đích thờ phượng Chúa, nếu tính trên toàn thế giới phải có số nhà thờ tương đương như thế nữa, nghĩa là con số sẽ là trên một trăm ngàn Nhà Thờ.

                        Cuộc điều tra tại riêng ở nước Mỹ cho chúng ta biết tổng quát là trong một trăm người Mỹ, có hơn bẩy người hay bẩy người rưỡi thường ngày đến Nhà Thờ để cầu nguyện, biểu tỏ Đức Tin nơi Chúa (Thượng Đế) trên Thiên Đàng, ngoài ra họ còn có rất nhiều sinh hoạt tôn giáo, đan cử như chuyện đi hành hương La Mã.

                        Mỗi Thứ Bẩy của các tháng từ tháng Tư cho đến tháng Mười hàng năm, dân chúng toàn thành phố La Mã luôn tụ tập về một giáo đường, được xây cất cách Đấu Trường hay Colossium của thời xa xưa, khoảng không đầy một mile, là nơi mà các tín đồ Thiên Chúa Giáo lần đầu tiên đã bị thả vào cho hổ (mãnh thú) xé xác ăn thịt vì lý do họ đã không chịu từ bỏ Đạo Chúa. Số người tụ tập có thể thay đổi tùy theo tuần lễ, nhưng riêng với đêm tháng Sáu này, ước lượng cũng phải vài ngàn người là ít, cộng thêm một số người khác, tuy họ không trực tiếp tham dự vào đám rước, nhưng cũng làm nghẹt hết hai bên lề đường cùng tràn xuống phố chính. Cho tới cuối cùng thì ai ai cũng thấy cảm giác rõ ràng đây là một Lễ Hội thực sự.

                        Khi tới đúng nửa đêm, một bà già với vẻ mặt nghiêm nghị trang trọng, vác một cây Thánh Giá bằng aluminium cao khoảng một mét dẫn đầu, có vẻ như bà đã tới sau khi đi suốt đêm từ một miền quê hẻo lánh nào đó của nước Ý Đại Lợi này. Ngay lập tức dòng người tiếp bước theo chân bà, mỗi người đều cầm trên tay một cây nến trắng thắp sẵn, làm thành một dòng sông ánh sáng thiêng liêng lung linh chảy dọc phố phường. Cũng có một số người mặc quần jeans xanh, áo polo, đi giầy, nhưng đa số với các bà các cô bận áo đầm trang trọng nhất. Cũng có cả các ông già bà cả lớn tuổi phải chống gậy, nhăn nhó theo mỗi bước chân cùng đi theo.

                        Theo sau người vác Thánh Giá là một hướng dẫn viên với loa trên tay, bắt nhịp cho đám đông hát các bài thánh ca, cùng lâm râm cầu nguyện, liên tiếp liên lỉ trong sáu tiếng đồng hồ không phút ngừng nghỉ. Tất cả đám đông đều muốn bầy tỏ một thông điệp: chúng con tuy rất bận rộn với cuộc sống thường nhật hàng ngày, nhưng chúng con vẫn phải tụ tập về nơi đây, nơi Thánh Địa Jerusalem thiêng liêng này. Quan sát chung quanh ta sẽ nhận ra đủ mọi sắc dân khác nhau, với trang phục văn hóa khác nhau, đến từ mọi miền trên thế giới. Bây giờ tất cả cùng mang vẻ mặt nghiêm chỉnh, cùng chắp tay cầu nguyện, ánh mắt long lanh tràn đầy các niềm ước nguyện hay niềm đau khổ.

                        Mục tiêu của đám rước là tiến tới Tu Viện của Dòng Đức Mẹ Đồng Trinh Yêu Mến Thánh Giá, nơi đây cũng có nhà thờ lớn xây cất để vinh danh Mẹ Maria cùng tháp cổ bên ngoài tường. Chính tại nơi này một đêm xuân năm 1740, một khách du lịch hay tín đồ hành hương đã bị vây, cùng bị tấn công khủng khiếp bởi một đàn chó dữ. Nhưng khi tín đồ này chỉ mới kêu đến tên Đức Bà Maria thì lập tức đàn chó hung hãn bỏ chạy tản mát đi hết. Sự việc này được ghi nhận như một phép lạ. Dân chúng thành La Mã gọi đây là một “ân sủng” của Đức Bà hay cũng còn tên gọi là Ân Sủng Madonna. Cho tới ngày nay, đã cách 270 năm mà nhiều người vẫn tới để xin Ân Sủng này lại xẩy ra cho chính bản thân mình khi gặp những diều nguy hiểm hay khó khăn.

                        Một cô gái còn trẻ trong đám rước tên Valentina Lucia là chủ nhân một tiệm snack bar gần Trevi Foutaine (Mỹ) nói: “ Mọi người đều có lý lẽ riêng tư để phải thân hành tới đây hành hương.” Sau khi dấn bước theo đoàn rước lễ trong liền ba tiếng đồng hồ, chắc đã thấm mệt nên cô ngồi xuống ở một trạm nghỉ khoảng mười phút, cô gái giải thích luôn miệng là tại sao cô phải thực hiện cho kỳ được chuyến hành hương lần đầu tiên trong cuộc đời này.

                        Cô bảo: “Tôi muốn nguyện xin ân sủng cho cuộc hôn nhân sắp tới, tôi muốn xin Ân Sủng Madonna lại xẩy ra cho chính bản thân, vì cảm thấy tâm hồn cùng thể xác bị trĩu nặng trong mỏi mệt sơ cứng. Tôi cầu xin cho sức khỏe bản thân cũng như xin tương lai tươi sáng cho đàn con cháu sau này nữa.”

                        Với ý tưởng dản dị, tôi hỏi: “Tại sao cô phải hy sinh công sức cùng sức khỏe để phải lần mò đi suốt đêm hành hương như thế này? Tại sao cô không cầu nguyện ngay tại một nhà thờ gần nhà, vừa thuận tiện vừa an toàn bao nhiêu không?”

                        Cô đáp: “Ai chẳng có thể đến nhà thờ gần nhà mình, nhưng như vậy tôi không thể cảm thấy được gần Đức Chúa Trời. Mỗi tín đồ đi hành hương đều muốn bầy tỏ sự hy sinh, muốn đón nhận lòng thương sót của Đức Chúa Trời khi mà chính Ngài đã hy sinh cho chúng ta. Đức Chúa Trời luôn nhìn thấy chúng ta, Ngài hiểu lòng thành kính trong tim óc chúng ta. Tôi có Đức Tin là những cố gắng vất vả của tôi trong cuộc hành hương này được Ngài biết đến”. Cô còn nhấn mạnh: “Chúa phán là con phải cho đi trước khi con muốn được đón nhận”.

                        Trong lịch sử nhân loại dù thời đại nào cũng luôn có những người như Valentina, tự nhiên buông bỏ hết nếp sống sinh hoạt bình thường hàng ngày để đi tìm sự bình an ở một nơi linh thiêng. Có nhiều người cho là cần sự “thanh tẩy” bằng cách phải tránh xa những ồn ào rộn rã của thế giới ngày nay, trong khi đi tìm ý nghĩa sâu xa thiêng liêng cho cuộc sống. Vài người khác giống như Valentina muốn biểu tỏ Đức Tin bằng cách cầu xin được ân sủng giúp đỡ khi có ước muốn nhu cầu cần thiết. Nhiều nhóm khác muốn xác định chân lý cho Đức Tin của mình bằng hành động như những người Serb (Tiệp Khắc) theo Chính Thống Giáo tại tỉnh bang Kosovo gây biến động chính trị.

                        Lại kể chuyện Bà Egeria xưa nguyên người vùng Galicia thuộc nước Tây Ban Nha. Bà là công dân La Mã, bà khởi hành năm 381 (sau Thiên Chúa giáng sinh hay Công Nguyên), chỉ bẩy mươi năm ngay sau khi Hoàng Đế Constantine vừa chịu công nhận Giáo Hội Thiên Chúa Giáo trong Đế Quốc La Mã và cũng cho phép xây cất nhà thờ tại nơi Thánh Địa thiêng liêng Jerusalem.

                        Đầu tiên Egeria khởi hành từ Ai Cập rồi Anatolia, Bà quyết chí đến lại vùng Đất Hứa theo đúng vết tích mà các tín đồ Thiên Chúa Giáo đã dõi đường Chúa đi. Bà lê bước trong ba năm trời đằng đẵng để vượt qua chặng đường dài hai ngàn (2.000) miles. Bà muốn làm một “nhân chứng sống” cho dân chúng tất cả vùngPalestine chứng kiến. Có thể nói Bà là người hành hương với lòng Mến Chúa, để làm gương cho sau này các tín đồ Thiên Chúa Giáo noi theo.

                        Riêng thời đại của chúng ta ngày nay, mỗi năm có khoảng ba trăm triệu người đi hành hương. Cùng vô số người khác tự nguyện từ bỏ những tiện nghi vật chất cùng thói quen của cuộc sống hàng ngày, hoặc phải lìa xa gia đình, trong việc đi tìm tới được soi sáng cho sự bình an ổn định trong tâm hồn. Nhiều nhà khảo cổ học đã tìm thấy bằng chứng cho nhiều đợt hành hương của dân chúng, làm nên nhiều nền văn hóa trong lịch sử, nhiều nhà nhân chủng học khác cũng chứng minh các vết tích của nhiều sắc tộc mà các cuộc hành hương làm biến đổi ngay cả gốc của DNA di truyền. Đan cử thí dụ như tục lệ của người Do Thái phải tìm tới Jerusalem vào Lễ Vượt Qua.

                        Văn hào Mark Twain của Mỹ khi tham dự thánh lễ ở Kumth Mela năm 1895 lại viết mô tả: “Tôi không biết họ đi hành hương do Tình Mến Chúa hay vì sự Sợ Hãi. Tôi không thể nào hiểu được điều đó, dầu sao các đợt hành hương được thực hành trước hoặc sau các tưởng tượng của Đức Tin.”

                        Tại Syria Trung Đông người Thiên Chúa Giáo thờ phượng Chúa với lòng tin là có thể chữa được các bệnh như “vô sinh” không con, cùng mang lại các niềm hy vọng như sống lâu trường thọ. Những người Thiên Chúa Giáo ở nơi khác lại cho rằng phải tới Miền Đất Hứa chỉ để thăm nơi thiêng liêng của Chúa Jesus hoặc phải tới ngay La Mã để thờ lạy trước mộ Thánh Peter.

                        Ở Pháp dân chúng luôn ước ao du hành tới Nhà Thờ Santiago de Compostela tại Galicia để chiêm ngưỡng xương Thánh St. James thôi, mà họ cũng đã coi như tương đương được tới miền Đất Hứa Jerusalem vậy.

                        Còn dân chúng tại Jordan hiện tại lại có truyền thống đi hành hương tới mộ của Aaron là anh của Moses. Người mà Kinh Cựu Ước mô tả là đã được chôn cất tại núi Hor của bán đảo Sinai, ngay gần bên Biển Chết, là nơi mà xưa kia những người Caanane đã được Đức Chúa Trời ban truyền gọi cho Mười Điều Răn.

                        Chuyện gần đây nhất là vào thời gian Đệ Nhị Thế Chiến sắp chấm dứt năm 1944, dân chúng tại La Mã rất bối rối lo lắng và có thể nói rằng hoảng loạn khi quân Phát Xít Đức vẫn còn hiện diện chiếm đóng nơi đây, không ai có thể tiên đoán được tình hình quân sự ác liệt rồi sẻ diễn tiến ra sao nữa? Thế nhưng khi tình thế chín mùi, binh đội Đức rước tượng Đức Mẹ Maria đi khắp nơi từ Nhà Thờ này sang Nhà Thờ khác trong thành phố, như để nương nhờ quyền năng của Người che chở, sau đó họ lặng lẽ rút lui toàn bộ. Ngay ngày hôm sau quân đội Đồng Minh tiến vào tiếp quản La Mã cũng êm đẹp không một tiếng súng. Sáu ngày sau Đức Giáo Hoàng Pius XII tuyên bố: “Đức Mẹ đầy lòng Bác Ái Thiêng Liêng đã che chở cho toàn thể dân chúng.” Hãy coi đây là một phép lạ của Đức Mẹ Đồng Trinh ban cho Thành Phố La Mã vậy.

                        Ngày tôi trở lại La Mã đến thăm viếng tu viện Scala Santa, tu viện này được xây cất từ năm 1600, bằng nhiều tấm đá cẩm thạch, những tấm đá này được mang về từ Jerusalem. Tục truyền nhờ do chính lệnh Bà Helena là Mẹ của Hoàng Đế Constantine, khi bà đi hành hương năm 334 (Dương Lịch) đến miền Đất Hứa, bà đã sai quân lính mang về. Những bực đá cẩm thạch này có liên hệ mật thiết với cuộc đời của Đức Chúa Jesus, vì trước kia nó thuộc lâu đài của Pontius Pilate, là nơi mà Chúa đã qua lại rất nhiều lần trước khi bị đóng đinh trên Thập Tự Giá.

                        Theo tìm hiểu thì truyền thuyết của câu chuyện này xẩy ra vào thế kỷ thứ 9, còn nguồn gốc xa xưa nữa của những bực đá cẩm thạch, thì không ai được biết chính xác. Ngay khi tôi thực hiện chuyến hành hương này cũng thấy biết bao nhiêu người đang quỳ gối nơi đây, đồng thời thấy một xe bus trờ tới, đổ xuống một đám đông tín đồ đến từ Brezil. Họ ăn mặc sặc sỡ kiểu văn hóa của dân Nam Mỹ, cũng giống như hầu hết các đội banh bóng tròn (bóng đá). Họ qùy gối rồi rạp mình bò lần theo hai mươi tám bực thang cấp đá cẩm thạch, trong khi luôn miệng lâm râm cầu nguyện, mắt thì chăm chú tìm kiếm, họ hy vọng tìm thấy những vệt nâu trên nền đá cẩm thạch, tin tưởng đó chính là vết máu của Đức Chúa Jesus Ki Tô.

                        Làm dấu thánh giá theo mỗi bước chân mà họ gọi là “bầy tỏ sự thành kính bằng một hành động cụ thể, để gây ấn tượng tốt nhất giúp cho Đức Tin”. Tôi đến hỏi Cha Massino là người phụ trách nơi đây, về những thắc mắc trong biểu lộ của Đức Tin, Cha bảo: “Chẳng ai, không ai bắt họ phải qùy gối bò lê trên các bực đá cẩm thạch như vậy, tự họ và do chính họ nghĩ là phải làm như vậy mới thoả mãn, phù hợp cho Đức Tin trong chính lòng Mến Chúa mà họ tự cảm nhận được trong trái tim”.

                        Từ hai thế kỷ cuối cùng mười chín và hai mươi, nhiều phép lạ khác xẩy ra liên hệ tới Đức Mẹ Đồng Trinh: Năm 1858 Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (Lourdes) ở Pháp cho một em bé gái mười bốn tuổi, khiến em nhìn thấy Đức Bà với bộ áo trắng trong một hang đá, cho mãi tới nay mọi người hành hương đều tin tưởng, mang về nước suối tại Lộ Đức, do đã chữa khỏi được nhiều loại bệnh nan y. Năm 1917 Đức Mẹ lại hiện ra tại Fatima Bồ Đào Nha, cho nhiều tín đồ Công Giáo là các nông dân trong vùng chiêm ngưỡng. Rồi tại vùng Knock của Ái Nhĩ Lan, một nhóm mười lăm người là tín đồ dòng Evangelic Tin lành, họ mô tả đã thấy rõ Đức Bà Maria cùng Thánh St Joseph hiện ra. Lại nữa Đức Bà Đồng Trinh cũng hiện ra tại vùng Guadalupe ở Mễ Tây Cơ cho một nông dân tên Juan Diago, biểu lộ nhiều phép lạ được Tòa Thánh công nhận, nâng đỡ cả hai mặt về đời sống tinh thần lẫn vật chất cho dân chúng nơi đây.

                        Phép lạ gần đây nhất xẩy ra là ngày 24 tháng 6 năm 1981 tại Medugorje xứ Bosnia (xứ này và bang Kosovo của Tiệp Khắc trước kia thuộc trong thế giới Cộng Sản chuyên chế, nhưng nay đã trở thành các nước theo chế độ dân chủ của thế giới tự do). Đức Mẹ Đồng Trinh đã lại hiện ra cho sáu nông dân trong một trang trại được chứng kiến rõ ràng. Sự việc này làm thay đổi hẳn ngôi làng hẻo lánh, vì sau đó thì bao nhiêu là nhà nghỉ, khách sạn và nhà hàng mọc lên như nấm để phục vụ hàng trăm ngàn du khách, tới hành hương hàng năm nơi đây. Trong số này phải ghi nhận nhiều người Liên Xô từ Viễn Đông, họ vượt băng vùng Siberie giá buốt bởi các chuyến xe lửa Trans-Siberians tới tận nơi này, với Đức Tin cùng niềm hy vọng chữa được mọi bệnh nan y, cũng như đưa đến bình an cho tâm hồn trong lòng Mến Chúa.

                        Năm 1990 Cha Nicola Mapelli là một mục tử đã hy sinh phục vụ từ rất nhiều năm, để reo rắc tin mừng tại những khu làng hẻo lánh thuộc đảoMindanao tại Phi Luật Tân. Tôi có gặp cha trong Bảo Tàng Viện các Vị Thừa Sai Sắc Tộc vì Cha đã tới tuổi về nghỉ hưu, Cha kể rằng trong Bảo Tàng có giữ dìn bảo toàn để làm collection được đến 80.000 hiện vật liên hệ đến Đức Tin và Phép Lạ trên toàn thế giới. Đặc biệt tại Phi Luật Tân là quốc gia có tới 90% dân chúng rất mộ đạo (phần lớn là theo Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Vatican). Cha bảo ở Phi Luật Tân thường có nhiều cuộc hành hương đến các nơi thiêng liêng, từ những giòng sông, thác nước, hoặc ngọn núi v.v..mà biết bao tín đồ đến quỳ lạy chân thành xin ơn Cứu Độ.

                        Trở lại chuyện hành hương tại Jerusalem, sáng sớm hôm sau là bình minh của ngày Chủ Nhật, cùng sự im lặng trở lại với tòa Nhà Thở Vĩ Đại vì những đám đông hành hương kỷ niệm “sự hy sinh của Đức Chúa Jesus tại Nazareth” đã giải tán. Tình cờ gặp lại cô gái tên Valentina, cô mang bộ mặt phờ phạc mệt mỏi nhưng tràn đầy Đức Tin nơi Thiên Chúa. Tôi lên tiếng hỏi: “Cô mệt lắm hả? coi chừng liệu cô có bị bệnh không sau một đêm vất vả như vậy”. Cô mỉm cười sau một lúc suy nghĩ rồi bảo: “Dầu sao Đức Chúa cũng đã biết, đã thấu hiểu chuyện này cho tôi rồi.”

                        Đây chỉ là một phóng sự ngắn so với bao chuyện hành hương mà điển hình như bài thơ tả cảnh Đi Chùa Hương nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Nhược Pháp trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn mô tả lại, khiến người Việt chúng ta ai cũng thuộc, cùng thể hiện bao Lòng Thành Kính cùng Niệm Tin vào các Đấng Thiêng Liêng ngự trị trong các Thế Giới Vô Hình hay còn gọi là các Thế Giới Bên Kia. Nếu kể trong lịch sử tri thức nhân loại chúng ta cũng ngạc nhiên khi có biết bao điều hoặc rất nhiều chuyện khác nữa tuy “hiển nhiên” mà lại không ai biết tới được.

                        Đan cử ngày 23 tháng 9 năm 1846, Johann Gottfried Galle đương kim Giám Đốc Thiên Văn Đài Bá Linh (Berlin), đang nghiên cứu về quỹ đạo của Thiên Vương Tinh (Uranus) và đang thắc mắc không biết tại sao hành tinh này lại cứ chạy “loạng quạng” như vậy, thì may mắn sao lại nhận được một bức thư của người bạn tên Urbain Le Verrier gửi từ Pháp. Le Verrier bảo tôi nghĩ là phải có “một cái gì” hoặc một “hành tinh vô hình” nào đó khác nữa, nằm ở quỹ đạo bên ngoài gây rắc rối. Đi tìm điều khó hiểu trên, hai người vận dụng đến Toán Học để tính toán, đồng thời hướng ống kính thiên văn lên bầu trời đêm theo dõi. Cuối cùng họ đã tìm ra được điều “bí mật” có thực, tức là có một hành tinh khác nữa, rồi đặt tên cho hành tinh mới này là Hải Vương Tinh (Neptune): sự việc xẩy ra làm thay đổi hẳn lịch sử của khoa Thiên Văn Học.

                        Y như chuyện kể trên, khoa học gia ngày nay lại thấy bao chuyện “bất thường” trong qũy đạo chuyển động của các thiên hà, các tinh tú ngoài vũ trụ nữa. Vậy rõ ràng phải có hiển nhiên rất nhiều thiên thể lạ “không biết”, được cấu tạo bởi loại “vật chất vô hình” hay còn gọi là “vật chất tối” (dark matter) xoay chuyển bởi rất nhiều “năng lượng tối” (dark energy) luôn luôn vần vũ bên ngoài vũ trụ. Khoa học gia cũng còn nghĩ là “vật chất tối” không những chỉ làm ảnh hưởng đến các chuyển động của “vật chất thường” (tức các thiên hà, các tinh tú mà ta nhìn thấy) mà còn làm hẳn ra nhiều thế giới “huyền bí” thoát ra ngoài khỏi tầm nhìn, tầm hiểu biết của chúng ta.

                        Ngay từ thập niên 1930 của thế kỷ 20 nhiều khoa học gia đã có hướng nghiên cứu đi tìm những tính chất của vật chất tối, cùng với ước lượng vật chất tối nhiều gấp 6 lần vật chất thường, hay tỉ lệ giữa vật chất thường trên vật chất tối là 1/6. Nhưng vấn đề là không thể nào trực tiếp phát hiện ra vật chất tối, vì vậy khoa học gia lý luận là phải tìm những “phản ứng” của vật chất tối tác động trên vật chất thường. Thế rồi câu chuyện vất chất tối bây giờ không còn phải là chuyện riêng của khoa thiên văn nữa mà đã là chuyện cần nghiên cứu ngay trong cấu trúc của nguyên tử.

                        Bước sang đầu thế kỷ 20 với phát minh ra các chất phóng xạ tự phân rã, lý thuyết gia vật lý người Ý Đại Lợi tên Enrico Fermi đã đưa ra định đề là phải có một lực tự nhiên khác gọi tên là “lực yếu”, cũng giống y như các khoa học gia phát hiện ra lực điện từ trước đó ở thế kỷ 19. Lực yếu này không giống như quang tử tức photons (không có khối lượng mass) mà ngược lại chúng rất nặng, nặng gấp một trăm lần quang tử, cũng còn được gọi là các hạt (particles).

                        Để rõ hơn khoa học gia ngày nay gọi chúng là các “hạt khổng lồ tác dụng yếu” (weakly interacting massive particles) viết tắt WIMPs. Những hạt khổng lồ này rõ ràng cũng là “vật chất tối” mà chúng ta không thể nhìn, không thể thấy cũng như không thể bíêt được, chúng có bao nhiêu? ở đâu? tác động thế nào? Nhưng làm bài toán phân tích, khoa học gia cho biết là chỉ trong khoảng một tiếng đồng hồ cũng đã có hàng tỉ hạt vật chất tối này chạy qua cơ thể chúng ta rồi. May mắn lắm thì chúng không gây tác hại gì, thế nhưng biết đâu trong khoảng một năm chẳng có một vài hạt WIMP cào sát ngay các hạt nhân nguyên tử trong cơ thể của chúng ta, để lại “năng lượng tối” nữa?

                        Chỉ có thể biết sự hiện diện của vật chất tối khi có một số tác dụng lên vật chất thường, chúng cũng tự tương tác với nhau làm thành các “cụm” y như vật chất thường lảm thành thiên hà, thiên thể. Vật chất tối không tiếp nhận, không phản chiếu ánh sáng thường, nhưng có thể chúng tiếp nhận, phản chiếu các ánh sáng “vô hình” (tia X, tia hồng ngoại, tia tử ngoại) cùng tương tác với lực hấp dẫn vạn vật (gravity).

                        Năm 1956 hai nhà bác học nguyên tử được giải thưởng Nobel là Tsung-Dao Lee và Chen Ning Yang cùng Robert Foot với Raymond Volkas thuộc trường Đại Học Melborne ở Úc Đại Lợi đặt câu hỏi: “Cớ sao những hạt vật chất tối này lại không thể cấu tạo cũng giống y như những hạt vật chất thường? nghĩa là chúng cũng là vật chất thường đối xứng trong gương, chúng y hệt các electrons, neutrons, protons, chúng chỉ mang điện lượng khác dấu thôi. Như vậy vật chất tối cũng phải hợp thành các thiên hà tối, các ngôi sao tối, các mặt trời tối, các hành tinh tối và các nhân loại tối hoặc những thế giới của “loài người vô hình” hoặc nói nôm na là những “thế giới bên kia”, và các nhân loại này cũng luôn có tất cả mọi sinh hoạt bình thường bên cạnh chúng ta vậy.”

                        Điều duy nhất hy vọng là các thế giới bên kia không thể giống hệt thế giới bên này là vật chất tối (non-baryonic matter) có nhiều gấp 6 lần vật chất thường (baryonic matter), cũng như ước lượng của khoa học gia là năng lượng tối có nhiều gấp ba lần năng lượng thường của thế giới bên này là ít.

                        Điều đáng quan tâm nữa của vật chất tối và năng lượng tối là chính chúng điều hành sự tiến hóa, tiến triển, tương lai của vũ trụ này, chúng ta phải phụ thuộc vào cái “phía tối” này của vũ trụ, chúng ta không thể nào tiên đoán điều gỉ cả trong tiến trình của “đời sống vũ trụ”.

 

Tác Giả Bài Văn
Bùi Trọng Căn