Ngay thiên niên kỷ thứ nhất (theo dương lịch) nước Việt Nam ta có lịch sử thật đặc biệt đó là mở đầu của thiên niên kỷ thì cùng lúc có Hai Bà Vua (là Trưng Trắc và Trưng Nhị cùng ngồi chung một ngai vàng), rồi cái lạ lùng trên đã lập lại đúng ở cuối cùng thiên niên kỷ là có Hai Ông Vua cũng ngồi chung một ngai vàng, thuộc thời nhà Ngô (Ngô Xương Văn rước anh là Ngô Xương Ngập về ngồi chung một ngôi vua).

                        Có thể do chuyện không tha thiết với quyền hành hay không “lo” chuyện quốc gia đại sự của anh em nhà họ Ngô kể trên đã dẫn đến tình trạng trong nước giặc giã nổi lên như ong, làm thành thời Thập Nhị Sứ Quân, khi đó giòng dõi chính tiếp nối của nhà Ngô tức Ngô Xương Xí cũng chỉ còn là một trong mười hai sứ quân thôi.

                        Cuối cùng lịch sử phải đi theo một hướng khác sui khiến cho một nhân vật thật bình thường (không phải là những Sứ Quân) được biết đến dưới danh hiệu dân gian là “cờ lau tập trận”, tuy rất giản dị mà lại dẹp tan được hết mọi thế lực khác (Sứ Quân), để rồi tập trung tất cả uy quyền về tay một người duy nhất này đó là Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư (ngày nay thuộc huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình).

                        Đinh Bộ Lĩnh là con ông Đinh Công Trứ trước làm thứ sử ở Hoan Châu, nhưng ông này mất sớm, Đinh Bộ Lĩnh về quê ở với mẹ, phải lo công việc đi chăn trâu bò. Thường ngày Đinh Bộ Lĩnh hay bắt trẻ cùng chăn trâu khoanh tay làm kiệu để ngồi rồi bắt chúng rước, lấy bông lau làm cờ bầy trận đánh nhau. Khi lớn lên Đinh Bộ Lĩnh lưu lạc sang phủ Kiến Xương tỉnh Thái Bình nương náu ở nhờ sứ quân Trần Minh Công nên thạo việc binh. Khi Trần Minh Công mất Đinh Bộ Lĩnh về lại Hoa Lư chiêu mộ hào kiệt rồi hùng cứ một phương, ông tự sưng làm Vạn Thắng Vương lên ngôi Hòang Đế tức vị Đinh Tiên Hòang cùng đặt lấy tên quốc hiệu là Đại Cồ Việt đóng đô ở Hoa Lư.

                        Cổ sử chép có tên Đỗ Thích làm lại (chưa phải là quan hay thuộc lọai quan hầu nhỏ) nằm mê thấy sao rơi vào mồm, coi như điềm triệu trời cho mình làm vua. Nhân một hôm Đỗ Thích thấy Đinh Tiên Hòang uống rượu say nằm ngủ mê mệt trong cung, Thích bèn lẻn vào giết Đinh Tiên Hòang nhưng ngay lập tức bị đình thần bắt được đem ra làm tội, sau đó con của Đinh Tiên Hòang được tôn lên làm Vua tuy mới lên sáu (6) tuổi. Quyền chính mới thuộc về tay Thập Đạo Tướng Qưân Lê Hòan, mà ông này lại tư thông với bà Thái Hậu Dương Vân Nga, nên ông ta (Lê Hòan) cướp ngôi nhà Đinh mà lập nên nhà Lê (tiền Lê hay Lê Đại Hành, có công đánh nhà Tống bên Tầu).

                        Tính từ thời Đinh Tiên Hòang trở về trước một ngàn (1.000) năm thì sinh họat xã hội như thế nào? Lúc đó dân Việt Nam chắc chỉ có khỏang vài trăm ngàn người (chưa tới một triệu) nên không có sử sách gì ghi chép. Tuy nhiên cùng thời thì bên Tầu chắc đã có dân số phải đến vài triệu vì vậy mà sử gia Tư Mã Thiên đã biên chép lại những nét chính để cho chúng ta có thể biết sơ qua tình trạng sinh họat xã hội của thời đó ra sao.

                        Trong sách Tư Mã Thiên thường dùng từ “đức kim thượng” là để ám chỉ Hán Vũ Đế chính là nơi chốn triều đình đương thời của tác giả: Nhà Hán nổi lên đã thừa kế những điều tệ hại của nhà Tần để lại. Lúc đó những người mạnh khỏe đều phải đi phục vụ trong các hàng ngũ quân đội, chỉ cỏn những người già yếu mới lo sản xuất và vận chuyển lương thực. Tóm lại trong xã hội việc làm thì khó nhọc mà tiền của lại rất thiếu thốn.

                        Ngay thiên tử (Vua) đi cỗ xe tứ mã nhưng cũng không kiếm được đủ bốn con ngựa tiệp đều màu sắc tầm vóc, nói chi đến thừa tướng hay hàng các tướng quân thì cũng hiếm ngựa phải dùng xe bò. Dân dã tầm thường không nghèo khổ là may, làm gì có của cải mà cất dấu. Chỉ trừ một vài số nhỏ dám làm trái phép (pháp luật) tham lam, tích trữ những của cải thừa thãi, dành khi khan hiếm mới bán ra làm cho vật gía cao vọt dần lên.

                        Lúc đầu khi mới bình định không cho những người đi buôn (làm thương mại không sản xuất) được mặc đồ tơ lụa, dùng xe cộ, mà họ vẫn phải chịu thuế nặng. Rồi về sau đến thời Lữ Hậu mới nới dần luật lệ cho thương nhân, mà riêng con cháu họ vẫn còn bị cấm không được làm quan. Thuế thân của dân chúng được dùng để phát lương cho quan lại, thiên tử chỉ hưởng lợi tức ở thuế đánh trên đồng ruộng, ao hồ, vườn tược, chợ búa, núi sông, bến đò..chứ không dùng cho vào việc thiên hạ. Khởi đầu dân chúng ai cũng được đúc tiền, sau quy định lại chỉ cho hai họ là Ngô Vương (ở gần mỏ đồng) và đại phu Đặng Thông được đúc tiền mà thôi, vì vậy mà sau này hai gìong họ Ngô, Đặng giầu hơn cả thiên tử.

                        Khi quân Hung Nô (Mông Cổ) vào cướp bóc vi phạm biên giới thì số người cùng qưân linh phải đi đóng đồn đi thú rất nhiều, số lúa lương thực tại địa phương không đủ cung cấp nẩy sinh nhu cầu cần thiết khiến nhà Vua phải mộ thêm trong dân chúng, ai có khả năng nộp và đưa thóc lúa ra biên giới đều được phong quan chức. Ngay cả những người có tội có thể chuộc tội bằng cách vận chuyển cung cấp thóc lúa nơi biên ải hoặc làm sản xuất tăng thêm vườn ruộng, làm chuồng nuôi ngựa, xây dựng cung thất cho vua quan.

                        Nhờ chính sách này mà các kho lúa ở kinh đô cùng các nơi đều dần đầy ắp, kho đụn thừa của cải. Tiền bạc trong kho tại kinh đô xếp hàng trăm triệu, đến nỗi lõi xâu tiền nhiều qúa để mục ra không đếm xuể. Thóc ở kho trung ương xếp hàng hàng lớp lớp chồng lên nhau đầy rẫy, tràn ựá cả ra ngòai bỏ đến mục nát không dùng được nữa. Ngòai dân chúng cũng có ngựa cả đàn trên các đường ngõ, tại kinh đô người ngựa đi chật đường. Ngay những người làm những việc như chân gác cổng ở xóm làng mà trong bữa ăn cũng vẫn có gà có thịt. Sử gia chép lúc đó pháp luật thưa mà dân giầu.

                        Nhưng về sau nhà Hán cần mỗi năm mang mấy vạn quân đi đánh rợ Hồ (Hung Nô hay Mông Cổ) vì vậy phải mở mang đường xá đi sang phía Tây và phía Bắc. Nhà Vua phải đưa dân hàng vạn người đi xa hàng mấy vạn dặm đến khai

phá những vùng hoang vu, sa mạc rồi còn vấn đề tiếp tế lương

thực cho đạo quân làm đường này nữa, lương thực mang đi xa

khi tới đích chỉ còn 1/60 (từ đồng bằng chuyên chở ra biên

giới 60 kgs, khi tới nơi chỉ còn 1kg).Sau phải dùng thêm

đường sông (đường thủy) để giảm bớt đường xa và giảm bớt

nhân công, thế mà dần dần kho tàng cũng trống rỗng.

Kết cuộc tiền thuế đánh bao nhiêu cũng không đủ cung ứng cho quân binh miền biên cảnh, nhà Vua phải kiếm thêm tiền tài nhân lực bằng cách ra lệnh cho mua Quan bán Tước, đưa tiền của ra là chuộc được tội (hay nhưng điều luật lệ cấm đóan). Nộp cừu cũng được phong làm quan lang bắt đầu từ thời đó. Còn có việc lạ thường nữa là cho làm “quan thử” tức là cho thử làm “lại” trước, thấy được thì phong tiếp cho chức “quan”. Sau có Trương Thang chỉ dùng lối văn chương nghiêm khắc gắt gao mà được phong đình úy, lại ra đạo luật “kiến tri” tức là người ta trừng trị hết sức nặng những người cản trở hay phỉ báng mệnh lệnh nhà vua.

                        Kể tiếp một chuyện tiêu biểu khác làm nhà vua không bằng lòng: Trương Thang có hiềm khích với một nguời tên Nhan Dị, ông này bị tố cáo nói chuyện với khách: “Lệnh vua ban ra có chỗ bất tiện”. Nhan Dị nghe thấy không đáp mà lại nhọn môi (hay bĩu môi). Trương Thang lập tức tâu trình lên vua: “Nhan Dị được phong làm quan đến chức cửu khanh, thấy lệnh không tiện không chịu vào tâu vua mà nhọn môi ý phỉ báng trong bụng”. Vì vậy Nhan Dị bị khép tội tử hình. Từ đó có thêm trong luật pháp “tội phỉ báng trong bụng”.

                        Thiên tử họp trăm quan nói: “Trẫm nghe Ngũ Đế dậy dân không lập lại việc làm của nhau nhưng nước vẫn trị. Các vua Hạ Vũ và Thành Thang pháp luật không giống nhau mà vẫn nên nghiệp vương nghiệp bá, đường đi họ khác nhau mà đức họ lập vẫn là một. Bây giờ biên giới tây bắc luôn có giặc làm trẫm lo lắm”.   

                        Cũng vì việc đánh rợ Hồ này mà Vua sai nuôi rất nhiều ngựa, ngựa chăn ở Tràng An đến mấy vạn con nên lính ở Quan Trung không đủ người nuôi, phải trưng dụng thêm cả dân chúng trong các quận, vùng gần đó làm thay. Cũng như chính nhà Vua phải bớt việc ăn uống của mình, tháo xe tứ mã, đem của cải cất trong kho tàng ra bù đắp để bổ cứu tình trạng kinh tế thời chiến kể trên. Gặp năm có nạn lụt Thiên Tử phải khiến sứ giả mang tất cả thóc lúa lương thực trong kho ra phát chẩn cho dân chúng. Riêng bọn “con buôn” hưởng lợi, thương nhân thấy tiền tệ thay đổi nên họ chứa chất hàng hóa (đầu cơ) kiếm lời làm giầu nhanh chóng, nhất là các người coi về hai mặt hàng: sắt và muối.

                        Nhà vua lập thêm chính sách di dân (kiểu như lập khu kinh tế mới thời nay) dời dân nghèo sang phía tây, tất cả đến bẩy mươi vạn miệng ăn phải nuôi, mà các nhu cầu ăn mặc này các quan địa phương phải lo giúp đỡ, có khi hàng mấy năm trời cho tới khi dân làm ra được sản nghiệp, Tiền tổn phí hàng ức vạn nhưng nhờ cách cho mua quan bán tước, thu vốn ở người giầu nên các quan đông đến nỗi mũ lọng liền nhau nối đuôi xếp hàng lớp không kể xiết. Riêng bọn thương nhân chuyên đúc tiền và nấu muối, có người giầu có hàng vạn cân vàng mà không chịu gíúp nước hay giúp dân nghèo, do đó thiên tử và công khanh phải bàn nhau thay đổi tiền (kiểu như đổi tiền thời nay) và lập ra “tệ” tức là dùng bất cứ vật gì có giá trị có thể thay được tiền, đều được mang ra dùng trao đổi.

                        Đương thời cũng có ba người được trọng dụng là Đông Quách Hàm Dương chuyên nghề nấu muối lớn quy mô, Khổng Cẩn chuyên nấu kim khí (vàng, bạc, sắt) nổi tiếng sản nghiệp hàng vạn cân vàng. Cuối cùng là Tang Hoằng Dương là con một người bán hàng nhưng có tài tính nhẩm nên năm mới 13 tuổi đã được người quen tiến cử lên vua, sau cùng được phong làm quan lên đến chức thị trung. Ba người này khi bàn việc lợi cho vua nghe thì phân tích đến từng chân tơ kẽ tóc.

                        Sau nữa luật lệ ngày càng nghiêm ngặt mà quan lại thì qúa nhiều nên phải xét lại nhất là chiến tranh vùng tây bắc cứ xẩy ra luôn luôn cần tiền chi phí, nhiều quan bi giáng hay bãi chức. Bây giờ người ta lại phải nộp tiền nộp ngụa để khỏi “bị” làm quan (vì làm quan lại dễ bị quy phạm tội). Đan cử chuyện Bốc Thức tiêu biểu cho thời đại:

                        Nguyên Bốc Thức người Hà Nam chuyên lo chăn nuôi và làm ruộng, cha mẹ chết hết mà còn một người em nhỏ. Khi em lớn lên Thức nhường tất cả gia tài ruộng vườn nhà cửa cho em, chỉ lấy một trăm con cừu. Thức mang cừu vào núi chăn nuôi trong mười năm, số cừu sinh sôi nẩy nở ra tới hơn ngàn con. Thức bán cừu tậu lại nhà cửa cho em vì người này ăn chơi phá hết sản nghiệp, Thức cũng làm nhiều việc nghĩa hiệp nữa. Quan địa phương biết chuyện tâu trình tiến cử Thức lên vua.

                        Thiên tử sai người hỏi Thức: Có muốn làm quan không? Thức đáp: Tôi từ nhỏ chỉ biết chăn nuôi không quen làm quan nên không muốn. Thế trong nhà ngòai xã hội có điều gì oan ức muốn bầy tỏ không? Tôi bình sinh không tranh chấp ai, làng xóm ai nghèo khó tôi cho mượn, không có việc gì oan uổng nên không có điều gì cần trình bầy. Thế ông có điều ước muốn gì không? Nghe nói có giặc Hung Nô chiến phí tốn kém tôi xin dâng tặng nộp tài sản để cho nhà nước dùng nuôi quân sĩ.

                        Nhà vua ban chiếu chỉ: “Bốc Thức lo cầy cấy chăn nuôi mà không mưu lợi riêng cho mình, hễ có của dư dả là mang hiến tặng nhà nước”. Vì vậy nên phong cho Bốc Thức làm chức ngự sử đại phu. Cùng thời này tại Nam Việt (tức Phiên Ngung mà sử gia Tầu Tư Mã Thiên đã chép là “làm phản”) thì dưới triều đại của Triệu Đà ông tự tôn sưng Hòang Đế ngang hàng với vua của Tầu. Quân Việt cùng xã hội phát triển hùng mạnh, trên bộ cùng thủy chiến, tranh đua và còn có phần vượt trội quân nhà Hán. Vua Hán rất lo sợ lập tức sai phái quân sĩ phải đào “ao” Côn Minh thật vĩ đại, xung quanh có lầu cao bao vây cùng lâu thuyền cao hơn mười trượng, treo cờ xí tráng lệ để nhà vua ngự coi luyện tập thủy binh.

            Cuối cùng ỷ thế đông dân hiếp đáp nước yếu Vua Hán mới sai Lộ Bác Đức mang mười vạn quân sang xâm chiếm Nam Việt (để tiếp nối là Hai bà Trưng lại phải mang quân đánh đuổi giặc Tầu quang phục đất nước).

                        Bây giờ tính từ thời Đinh Tiên Hòang trở về sau đúng một ngàn năm chúng ta rơi vào “thời đại nguyên từ” hay thế kỳ 20, xã hội lòai người sinh họat như thế nào? Các hiểu biết được thông tin phổ biến trao đổi đến tòan thể nhân loại mà người ta dùng danh xưng là “tòan cầu hóa”. Chuyện biết đến nguyên tử không đơn giản mà phải trải qua mấy chục năm cùng bao phát minh rắc rối ưu tư. Khởi đầu là một vật lý gia người Anh: Lord Kelvin mô tả nguyên tử rồi ông được giáo sư Thomson quảng bá, nên gọi là “nguyên tử Thomson”, hình thù giống một khối cầu có đường kính khỏang 1 angstrom mang điện dương, cùng các âm điện tử (electron) dính vào khối tròn này, hệt như các hạt nho dính trên mặt một bánh pudding. Như vậy nguyên tử chỉ là một đơn vị “tĩnh” không động.

            Năm cuối cùng của thế kỷ 19 với Henri Becquerel cùng Ernest Rutherford, và bước hẳn sang năm đầu tiên của thế kỷ 20 với Marie & Pierre Curie là những nhà bác học tiên phong mô tả các chất phóng xạ cùng các tia X, tia alpha, tia beta, tia gamma của thorium và radium. Rồi chính do nhờ một khoa học gia người Nhật tên Hantaro Nagoaka là nhà nghiên cứu đã bác bỏ cái mô hình nguyên tử “tĩnh” của Thompson quá dản dị. Trái lại Nagoaka tưởng tượng rồi đưa ra ý niệm rất lạ lùng và “cũng là lần đầu tiên” mô hình nguyên tử không “tĩnh” nữa, mà đã thành “động” giống như một “hệ mặt trời” với nhân và các hành tinh (giống như electrons) chạy chung quanh, tức nguyên tử là một đơn vị động nhỏ nhất, gồm điện tử âm (electrons) chạy ríu rít quanh một nhân dương.

            Năm 1901 Max Planck phát biểu quan niệm lượng tử (quanta) rồi cơ học lượng tử (quantum mechanics), tiếp nối 1903 William Ramsay phát hiện helium là phân rã của radium, sang năm 1905 Albert Einstein viết ra công thức liên hệ giữa năng lượng (energy) và khối lượng (mass) E = mc2, cùng năm Otto Hahn mô tả phóng xạ của thorium.

            Năm 1908 Johannes Wilhelm Geiger làm một xét nghiệm “lịch sử” là phóng tia alpha (hay chùm nhân nguyên tử) qua một lá kim lọai rất mỏng. Điều gây ngạc nhiên thích thú là đáng nhẽ các nhân nguyên tử này khi “đụng” lá kim lọai phải bật tung tóe trở lại y như ném một vốc bi vào tường. Trái lại trong xét nghiệm chỉ một số rất ít các viên bi bật ngược trở lại thôi. Chỉ có thể giải nghĩa chuyện lạ lùng này bằng cách lấy theo mô hình tưởng tượng của Nagoaka, tức các “nhân nguyên tử” phải thật sự rất rất nhỏ (để nguyên tử gần như trống rỗng), và điện tử chạy vòng ngòai mà rất “xa” nhân (chứ không dính vào nhân như mô hình Thomson). Nghĩa là xét nghiệm đã chứng minh chỉ có một số rất nhỏ nhân nguyên tử đã “đụng” với nhân nguyên tử của lá kim lọai nên mới bật trở lại thôi.

                        Năm 1911 Ernest Rutherford làm lại xét nghiệm cùng phổ biến giả thuyến trên, giải thích rõ ràng “nhân nguyên tử” nhỏ tí tẹo ở trung tâm, mang điện dương và cũng mang gần như tòan bộ khối lượng (mass) của nguyên tử. Năm 1913 Niels Bohr một lần nữa dủng cơ học lượng tử tính tóan, để xác nhận tính chính xác cùng phổ biến các thông số cho mô hình mới thực thụ của nguyên tử. Năm 1918 Otto Hahn và Lise Meitner tìm ra chất phóng xạ protactinium trong “thời đại nguyên tử”.

                        Năm 1924 Louis de Broglie đưa thêm ý niệm về chuyển động của các phân hạt (particles) trong nhân nguyên tử có bản chất lại như các sóng (wavelike nature). Từ năm 1924 đến 1927 các bác học nguyên tử khác là Werner Heisenberg, Erwin Schrodinger, P.A Dirac, Wolfgang Pauli, Max Born hệ thống hóa tòan bộ các hiểu biết về nguyên tử bằng các công thức của “cơ học lượng tử mới” (the new quantum mechanics).

                        Năm 1932 James Chadwick tìm ra trung hòa tử (neutron), năm 1933 Carl David Anderson tìm ra dương điện tử (positron). Năm 1934 Enrico Fermi lần đầu tiên điều chế ra được chất phóng xạ (radioactivity) bằng cách cho “bắt” thêm trung hòa tử. Năm 1935 bác học nguyên tử Nhật Bản Hideki Yukawa đưa ra lý thuyết meson và các lực (forces) tiềm ẩn trong hạt nhân nguyên tử. Năm 1936 hai bác học nguyên tử Nhật Bản Soichi Sakata và Hideki Yukawa đưa ra lý thuyết cho quỹ đạo của “điện tử bị bắt” trong phân rã beta.

            Năm 1939 Otto Hahn và Fritz Strassmann phát hiện phản ứng dây truyền của phân rã nguyên tử. Năm 1940 Samuel Ruben tìm ra thêm carbon 14 (isotopes), năm 1942 lần đầu tiên “lò phản ứng nguyên tử” được điều hành bởi Enrico Fermi. Từ đây nhân lọai “thực thụ” bước vào thời đại nguyên tử, với các ứng dụng thực tế chứ không còn là chuyện mới mẻ mô tả trên lý thuyết sách vở nữa.

                        Riêng tới năm 1945 thì vụ “nổ nguyên tử” đầu tiên của nhân lọai được thực hiện đã diển ra tại sa mạc Cát Trắng (White Sands) tai tiểu bang New Mexico. Hiện nay Quân Lực Hoa Kỳ thường tổ chức mỗi năm hai lần, vào ngày Thứ Bẩy đầu cùa Tháng Tư và Tháng Mười hằng năm cho những ai muốn đến xem Trinity Site (là nơi mà vụ nổ bởi thí nghiệm nguyên tử của “con người” làm ra).

                        Dù đã trên sáu mươi năm kể từ vụ nổ đầu tiên (riêng Hoa Kỳ đã thực hiện tổng cộng tất cả 928 vụ thử nghiệm nguyên tử, đa số xẩy ra dưới lòng đất sâu tại tiểu bang Nevada) nên nếu không được hướng dẫn sẽ rất khó lòng tìm thấy dấu vết của vụ nổ.

            Nếu theo dõi chuyến thăm sẽ được xuất phát khởi hành từ thành phố Albuquerque của tiểu bang New Mexico đi theo xa lộ 380 về phía Nam.

                        Đi khỏang 200 miles là tới vùng sa mạc xa xôi mà nhóm bác học trong dự án nguyên tử Manhattan tìm chọn làm thí nghiệm: nơi này thực sự lý tưởng ở giữa vùng hoang vu bát ngát (có thể nói là đẹp đẽ nữa, không che tầm mắt mà cũng khó tìm phát hiện ra được bởi những kẻ tò mò lắm chuyện), bằng phẳng mà chung quanh lại bao bọc thực kín bởi các dẫy núi cao không bóng người lai vãng sinh họat.

                        Ngày làm xét nghiệm chính xác là 16 tháng 7 năm 1945 vẫn cỏn khắc trên bảng đồng gắn trên một cột xây bằng đá ghi: “Trinity Site: where the world’s first nuclear device was exploded on July 16, 1945” (đây là nơi mà thiết bị nguyên tử của thế giới được kích nổ lần đầu tiên vào ngày 16/7/1945). Trước khi vào hẳn Trinity Site hiện nay đã bị hơi lũng thấp hơn mặt sa mạc bình thường một chút (chứ không phải là một “hố sâu”) vì bom nổ trên lưng chừng trời (trên đỉnh một cột thép cách mặt đất vài chục mét: 100 feet). Dĩ nhiên cột thép này đã tan biến mất hòan tòan ngay lúc bom nỗ. Bây giờ tại đây cũng là nơi hiện diện rất nhiều người “bán hàng rong” luôn xôn xao chào mời mua kỷ niệm áo T-shirts, đồ ăn như hot - dogs, hamburgers cùng các thức uống đủ lọai. Nếu để ý nhìn về phía tây sẽ thấy dẫy antennes vĩ đại Very Large Array (dùng nhận các tín hiệu quan trắc vũ trụ).

                        Trước đây vài năm nơi này vẫn còn cấm tất cả mọi đồ ăn thức uống và ngay cả kẹo cao su chewing-gum, hay cấm cả các bà các cô dùng son môi vì sợ bị nhiễm phóng xạ. Hướng dẫn viên đặc biệt là cô Lisa Blevins bảo: “Chúng tôi bảo đảm mức phóng xạ nay đã xuống rất thấp chỉ còn 0, 05 millirem nghĩa là nhỏ hơn cả mức phóng xạ nếu bạn ngồi máy bay bay qua trên các vùng mỏ có uranium hay plutonium”. Để ý quan sát sẽ thấy các bụi cây dại và cỏ tòan vùng thấp bé xơ xác hơn các nơi khác, vì vậy một số người nghĩ chắc cây cỏ cũng bị “đột biến gene” di truyền (mutation) tuy nhiên theo cô Lisa thì lại là vì người ta đã phải cắt cỏ thấp xuống không để rậm rạp với lý do chính là sợ làm nơi ẩn náu của rắn ẩn nấp cắn chân du khách. Vả lại có một số bác học nguyên tử cùng các nhóm Hướng Đạo sinh luôn tình nguyện cũng hay thường mang theo máy “dò phóng xạ” (detectors) đến khu vực này để thăm dò xem liệu còn có gì đáng quan ngại không. Các sinh họat thường xuyên của nhân viên hướng dẫn vẫn là quanh quẩn tìm các “Trinitite” (đá tại Trinity) tức các viên đá mầu xanh lơ thẫm (emerald)  rất đẹp hình thành do cát (sa mạc) bị “vón cục” lại do nhiệt năng vài ngàn độ centigrade ngay lúc bom nổ. Vì ai cũng để ý tìm kiếm để làm “kỷ niệm” nên bây giờ những viên đá này rất hiếm. Cô Lisa cũng nhắc nhở các bà các cô không nên mang những viên đá này làm hoa tai (coi là đồ trang sức qúy hiếm) vì nếu còn phóng xạ mà lại “đặt” gần não bộ như vậy sẽ không “lường” trước được hậu quả.

                        Cách nơi thăm viếng khoảng hai miles là nhà hàng McDonald Ranch House, chính trong căn nhà hàng này quả bom nguyên tử đầu tiên của nhân loại được ráp ngòi nổ bởi nhóm bác học. Một điều nữa cần lưu ý về phương diện pháp lý: Tất cả những gì thuộc vùng này đều thuộc quyền “quản lý” của chính phủ liên bang, như vậy ngay cả những viên đá “trinitite” cũng là những “sản vật quốc gia” và những ai lượm mang về nhà làm của riêng đều có thể bị kết án là “tội phạm

pháp” (crime) trừ ý tưởng: “Chính tại nơi này con người đã định chơi “trò chơi” của Thượng Đế”.

                        Riêng trái bom nguyên tử mang thả xuống Hiroshima tương đương với 15.000 tấn chất nổ TNT hay 6, 3 x 10 13 (lũy thừa 13) joules. Chỉ 0, 1 hay 1 phần ngàn khối lượng vật chất biến thành năng lượng, nhưng trái bom này chứa lượng vật chất nguyên tử là 700 milligrams uranium (nghĩa là trọng lượng còn nhỏ hơn 1/3 trọng lượng của đồng hào dime dollar) biến ra năng lượng. Tiên liệu là khỏang nửa sức mạnh trái bom tan trong bầu không khí (35 % là sức nóng, 15 % là phóng xạ), thế nhưng cầu lửa tại nơi bom nổ đã cho nhiệt độ nóng bằng nửa lần nhiệt độ trên bề mặt mặt trời rồi.

                        Ước lượng các mỏ uranium trên thế giới còn khoảng 500 tấn plutonium, có thể tinh luyện ra khỏang 60.000 pounds chế tạo thành vũ khí nguyên tử, đó là không kể 1.600 tấn uranium đã tinh luyện chế tạo được 60.000 vũ khí nguyên tử rồi. Đến đây một vấn đề quan trọng được đặt ra: đó là vấn đề lương tâm nhân loại.

                        Nếu tính “của cải” vật chất cũng giống như “tri thức” thì ta có thể so sánh các “nhân vật khác thường” như Bốc Thức ngày xưa giống các bác học nguyên tử thời nay, chính họ với lương tâm trong sáng đã quên bản thân hay cá nhân mà chỉ sống với lý tưởng “vì tha nhân”. Từ những nhân vật này chứ không phải vì các Hòang Đế xưa và nay đã giúp cho lòai người tiến các bước nhẩy vọt đến xã hội văn minh.

                        Nhờ công lao của Bốc Thức và các người tiếp nối đã làm thông thương “con đường tơ lụa” nối liền Âu-Á là những bước đầu tiên của “toàn cầu hóa”, nhờ công lao các bác học nguyên tử mà bao nhiêu nhà máy điện nguyên tử, bao nhiêu ứng dụng nguyên tử

khai thác tài nguyên, năng lượng nguyên tử (cả trên các hỏa tiễn đi không gian) đã cho lòai người rất nhiều tiện nghi trong nền văn minh hiện tại.

                        Riêng với người Việt Nam chúng ta không thể giống như Ông Vua Đinh Tiên Hòang cách nay một ngàn năm nữa (dẹp hết sứ quân, tức chỉ “độc tôn”, không chấp nhận ý kiến người khác hay dân chủ) mà phải cố gắng ráng theo kịp nếp suy nghĩ trong tiến trình văn minh “toàn cầu hóa” của nhân loại.  

Tác Giả Bài Văn
Bùi Trọng Căn