MƠ CUNG QUẢNG GẶP CHỊ HẰNG

                                    Cuộc đời người nông dân Việt hai mùa mưa nắng rồi lại vất vả với thời vụ, không kể chuyện phải lo nước cho ruộng với thủy triều lên xuống. Mà đã nói tới thủy triều là nghĩ tới Mặt Trăng theo âm lịch, do đó dân quê ta mới có các câu ca dao:

                                    Đêm qua ra đứng bờ ao,

                                    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ.

                                    Đêm đêm tưởng Giải Ngân Hà

                                    Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.

                                    Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,

                                    Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.

Tra từ điển thì được biết: Tào là hai bên bờ cao ở giữa trũng xuống. Khê là khe nước ở chân núi. Mà người Bắc Ninh kể là huyện Từ Sơn có con sông nhỏ tên Tào Khê nữa.

Có ông khác còn tả giấc mộng kinh khủng là lên tận giải Ngân Hà trêu ghẹo chị Nguyệt trên Cung Quảng. Chung qui cũng là ca tụng cái vẻ đẹp kỳ diệu của vũ trụ, tiếp theo ai lại chẳng phải vơ vẩn ngắm Mặt Trăng. Rồi lại “ngâm câu thơ vấn nguyệt” tức là kể như nói chuyện với Chị Hằng:

                                    Nguyệt rằng: Vật đổi sao dời,

                                    Thân này trời để cho người soi chung

                                    Làm cho mệt mỏi anh hùng,

                                    Ngàn thu sương tuyết một lòng thanh quang.

                                    Tóm lại theo các văn nhân thi sĩ đều hay gọi Mặt Trăng là Cung Quảng, từ bên Tầu cũng kể Tư Mã Tương Như với Phượng Cầu Hoàng gửi khuê phòng nàng Trác Văn Quân, rồi kỳ lạ nhất nữa lại là Lý Bạch trong lúc uống rượu say, soi bóng xuống mặt sông, tiếp theo nhẩy ùm xuống giòng để cố ôm cho được Chị Nguyệt với nhiều tưởng tượng như người con gái thật.

                                    Bên phương Tây hay Trung Đông lịch sử đã kể ngay trước thời Newton, Mặt Trăng cũng giữ một nhiệm vụ quan trọng trong lãnh vưc tôn giáo. Dân chúng thành Babilone cũng có nhiều phương thức để tính Nhật Thực, Nguyệt Thực. Nhà thiên văn Hy Lạp nổi tiếng Hipparchus ngay thế kỷ thứ 2 trước Thiên Chúa Giáng Sinh cũng đã tính ra là quỹ đạo Mặt Trăng quanh Trái Đất bị lệch tâm.

                                    Rồi thiên văn gia Hy Lạp tên Ptolemy khoảng giữa thế kỷ thứ 2 trước Thiên Chúa cùng dân Chalde (mà Kinh Thánh có nhắc tới) đã căn cứ vào các quan sát Nguyệt Thực này để tính các trị số tuy rằng sai.

                                    Thế kỷ thứ 16 một thiên văn gia gốc Đan Mạch tên Tycho-Brahe lại phát hiện là chính Mặt Trời đã hút (lôi kéo) làm ra sự lệch tâm trong các Tuần Trăng ở những thời điểm mà ta thường gọi là Trăng Thượng Tuần và Trăng Hạ Tuần. Mặt Trăng hay Chị Hằng thực rắc rối gây bao thắc mắc, cho mãi tới ngày nay biết bao nhiêu Thiên Văn Gia đã nghiên cứu cùng viết lại toàn thể lịch sử Chị Hằng có thể tóm lược như sau:

                                    Trong thời kỳ hỗn mang cách nay nhiều tỉ năm khi Trái Đất chưa hẳn có lớp vỏ cứng như ngày nay, một thiên thể có kích cỡ bằng Hỏa Tinh đập vào Trái Đất, làm một lớp bụi lớn như đám mây tung bay quanh Trái Đất. Rồi chính đám mây bụi khổng lồ này đã cuốn lại làm hình thành dần Mặt Trăng cùng một Trăng nhỏ khác tên Theia. Người ta không biết tại sao vài trăm triệu năm sau Theia lại đâm sầm vào mặt sau lưng của Mặt Trăng (chị Hằng bị đánh trộm).

                                    Do nhờ có vệ tinh Luna 3 của Liên Xô phóng năm 1958 mới cho biết là phía lưng Chị Hằng dầy hơn phía mặt luôn quay về Trái Đất, phía cho chúng ta thưởng thức lại mang hình ảnh một người mà chúng ta cũng gọi là Chú Cuội, chính là lớp đất basalt có mầu đỏ quạch vì chứa nhiều sodium và các nguyên tố khác.

                                    Tháng 8 năm 2011 trên Tập San Thiên Nhiên (Nature) hai khoa học gia chuyên về hành tinh là Erik Asphang và Martin Jutzi tại Đại Học California đã tả rõ lại cuộc đụng của Theia vào Mặt Trăng, vì vậy mà chúng ta chứng kiến một sự bất đối xứng (asymmetry) của Chị Hằng. Sau nữa Asphang và Jutzi mô tả khi làm lại một cuộc “đụng độ” trên computer để chứng minh sự kiện này.                                                 

                                    Tất cả từ cổ chí kim đều ngắm Chị Nguyệt kỹ càng nên chẳng thế mà ngay chuyện tả sắc diện hay độ sáng của Chị cũng đã được phát biểu bằng tiếng Latin hẳn hoi là “Albedo” có nghĩa là Mầu Trắng “whiteness”.

                                    Chị Nguyệt đã tự biết mình chứ mãi sau này thiên hạ mới biết chị Nguyệt “mập” một phía hay có một khối lượng nặng bên mặt quay về Trái Đất, vì vậy trục quay chính của Mặt Trăng hơi khác thường trên mặt phẳng Hoàng Đạo, điều này cho ta biết tại sao chúng ta chỉ nhìn thấy một mặt trước của Chị Hằng, không ai thấy lưng của chị Hằng bao giờ cả. Các nhà làm lịch cho đến các thiên văn gia phương Đông cũng đã phải luôn luôn tôn trọng sự làm duyên này của Chị Hằng, đặt ra trong Âm Lịch rồi cũng gọi những ngày trong tháng là các tuần Trăng Thượng Huyền hay Trăng Hạ Huyền.

Ngay bây giờ thời của chúng ta từ những bài hát dân gian bình dị đều có Mặt Trăng trong đó như trong bài Những Nẻo Đường Việt Nam với các câu ca vang là:

                                    Những nẻo đường về đâu,

                                    Bóng chiều chậm rơi bờ lúa nương dâu

                                    Ôi ta hát trên đồi cao,

                                    Ánh Trăng đón đưa soi lối vào…

Tất cả chứng tỏ Mặt Trăng giữ một vị trí quan trọng trong đời sống dân Việt cũng như nhân loại kể từ ngàn xưa, chẳng thế mà bây giờ trong thời đại văn minh, khoa học kỹ thuật phát triển người ta đã dùng kính thiên văn ngắm nghía, rồi đặt tên cùng vẽ bản đồ chi tiết bề mặt của Mặt Trăng, mà trong đó nước Mỹ đứng đầu thế giới, cũng đã phải bỏ ra mấy chục tỉ USD để khởi xướng chương trình Không Gian vĩ đại, mang tên Apollo kéo dài trong cả chục năm trời. Sau đây nhân tháng bẩy, để kỷ niệm sau đúng 45 năm, một bài báo của tác giả là Jay Barbree đăng trên tờ Astronomy, đã kể lại rành rọt lúc Neil Armstrong đại diện cho con người bước chân lên bề mặt của Mặt Trăng.

                                    Cả tỉ người hồi hộp quan sát phi thuyền chở Neil Armstrong và Buzz Aldrin đáp xuống bề mặt Mặt Trăng ngày Chủ Nhật 20 tháng 7 năm 1969 đúng lúc 4 giờ 17 phút chiều (theo giờ quốc tế EDT).  Sáu tiếng và 38 phút sau, Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên bề mặt Cung Quảng. Aldrin theo Armstrong 38 phút sau nữa để trở thành người thứ hai bước trên bề mặt của Mặt Trăng, vì chưa một ai được viếng thăm Chị Hằng kể từ ngày khai thiên lập địa.

                                    Nếu theo mô tả trình tự Neil Armstrong khởi đầu nhìn ra thế giới xa lạ (Mặt Trăng) khi mở cửa sổ của phi thuyền đổ bộ. Việc đầu tiên làm anh quá ngạc nhiên là tại sao đám bụi bốc bay bổng lên cao, do ống phản lực của khoang đổ bộ Eagle dùng đáp xuống của phi thuyền, lại rơi hết làm quang đãng nhanh chóng đến như vậy. Trong nháy mắt Mặt Trăng cho thấy như chẳng có một sự rắc rối hay xáo trộn nào hết,  ngay lập tức Neil cảm thấy một tình cảm quá cô đơn như bị bỏ rơi, bao trùm lên tất cà gồm luôn Buzz Aldrin. Không một cánh chim bay hay sinh vật. Không một gợn mây, và bầu trời thì mầu đen khác với mầu xanh trên mặt Trái Đất.

                                    Thật tuyệt vời khi cơ quan NASA đã cho quyết định xem ai là người đầu tiên xuống khỏi phi thuyền để bước chân ra gặp mặt Chị Hằng. Vì quá cồng kềnh do bộ quần áo phi hành, cùng đôi bốt (ủng) ở chân, rồi còn túi đeo lưng, đó là những lý do mà Buzz Aldrin cũng không thể giúp gì khi Neil Amstrong loay hoay tại cửa xuống của khoang đổ bộ: Người chỉ huy (chính là Neil Amstrong) phải là người đầu tiên xung phong xuống trước, cũng như phải là người sau cùng bước trở lên lại phi thuyền. Neil ưỡn người ra phía trước, bước đi tự tín ra tới cửa, cùng vịn theo cánh tay cầu thang được mở thõng gần chạm xuống đến mặt đất (của Mặt Trăng).

                                    Ông lần đi chậm chạp nhưng vững chắc với tâm trạng y như một người lữ thứ chẳng biết đi đâu. Mặt Trăng hay Chị Nguyệt đã chờ đợi hơn bốn (4) tỉ rưỡi năm, từ ngày khai thiên lập địa rồi mà, cho nên Neil chẳng việc gì phải hối hả vội vàng. Mỗi bước chân đều cẩn trọng rõ ràng, chắc chắn như chẳng có vấn đề gì cả.

                                    Thoáng chốc ông thấy ngay là mình đang đứng trên một lớp bụi bẩn của Mặt Trăng, dừng tại chỗ ông nhìn lại, từ các bậc thang của phi thuyền Con Đại Bàng (Eagle) rồi tiếp xuống phía chân mình: rõ ràng là đã được tính toán từ lúc vẽ kiểu kiến trúc, khi lực (của chân) bước đi sẽ tự làm thõng mở ra các bực của thang. Rồi Neil cảm nhận được với nhiều kinh nghiệm bay khi ngồi trên Con Đại Bàng, lại rất thoải mái lúc toàn bộ thang cùng các bậc đã gập gọn gàng, mà khi bung ra thì cũng chỉ cách mặt đất (Mặt Trăng) vào khoảng một mét hay 3.5 feet thôi.

                                    Amstrong tự trách mình không khéo khi đặt cái đế của đôi ủng từ từ xuống bực thang. Rồi trước khi bước xuống thêm bước nữa, ông ta thử lại vì muốn xem chắc chắn có bước lên trở lại được bực thang không, vì gravity (trọng lực) ở Mặt Trăng nhẹ hơn trên Trái Đất nhiều, điều này làm ông ta (sức bắp thịt quen trên Mặt Đất) như là nhẩy lên, vì vậy mà hụt chân. Ông định trí lại rồi bước cẩn thận xuống bực thang.

                                    Buzz (Aldin) nhắc: “OK, bạn thử bước trở lại xem. Đừng đi xa vội, hãy chắc chắn là có thể quay lại được.”

                                    Tại CapCom ở Trung Tâm Houston nói: “Roger. Chúng tôi theo dõi sát tất cả mọi cử chỉ của các bạn.”

                                    Neil Amstrong bảo: “Tôi đã nhẩy lên một cái thực đẹp phải không” Rồi ông ta để ý xem có chuyện gì có thể làm nguy hiểm chăng. Vì từ lâu ông đã nghĩ nhiều về chuyện lúc đặt chân xuống Mặt Trăng. Ông ta nghĩ đúng là một câu chuyện lịch sử, khi đã từng nói chuyện với người anh tên Dean, nên Neil không rối trí.

                                    Dean nhắc phải đừng có quyết định gì hẳn cho tới lúc này. Ông vịn tay lên thành cầu thang rồi đi xuống. Sau đó ông nói: “Bây giờ tôi đã bước ra khỏi khoang đổ bộ”. Rồi nhấc chân trái lên, nhìn thấy rõ vết in hằn của chiếc bốt trên nền bụi Mặt Trăng, bụi bay lên rồi rơi ngay xuống thực nhanh vì không có bầu khí quyển. Neil nói tiếp: “Đây tuy là một bước đi bình thường của một người” thấy ngưng một chút rồi mới tiếp theo: “nhưng lại là một bước nhẩy vọt của loài người.”

                                    Thực ra phần nhiều trong máy truyền thông không nghe rõ hẳn là: “Đây chỉ là một bước chân bình thường của “một (a man) người” nhưng mọi phóng sự làm tường trình đều thiếu chữ a (một) trong nhiều năm. Vì thực ra lúc đó có tiếng bíp (beep) của máy xen vào, nên nhiều người không thể nghe thấy tiếng “a” hay là tại vì lúc đó Neil căng thẳng và cuống quá mà nói thiếu mât chữ một (a) này.

                                    Bởi vì tôi biết Neil lâu lắm rồi nên tôi không nghĩ là Neil bị căng thẳng hay bị cảm xúc quá đến nỗi nói thiếu chữ “a”, và tôi cũng nghĩ là chính Neil rồi cũng chẳng xác nhận được chuyện nói thiếu chữ “a” này hay không nữa.

                                    Neil nhớ lại là chính Mẹ (của Neil) cũng đã kỹ càng căn dặn ông về an toàn, cùng bảo con phải coi chừng xem mặt cát (trên Trăng) có chịu đựng nổi sức nặng của cơ thể mình không. Một lần nữa Neil nhún nhún để ước lượng xem trọng lượng của chinh cơ thể mình. Sau đó Neil nói với Trung Tâm Kiểm Soát Không Gian: “Mặt đất (Trăng) có vẻ tốt nhưng vón xốp như bụi phấn. Tôi nghĩ là có thể khều hoặc đá tung lên bằng ngón chân. Bụi này không dính có thể giống y như bụi than trên mặt mỏ than, nó bám đầy bên mép đôi bốt (boots) của tôi. Bây giờ tôi thử nhích một bước ngắn, khoảng một phần tám inch, và tôi nhìn thấy vết của chiếc bốt trên mặt giống y như cát mịn”.

                                    Neil tả tiếp tôi cảm thấy như đứng trên nền đá vững, nhưng vẫn phải giữ thăng bằng, vì cảm nhận rõ ràng như xương cốt trong mình lỏng lẻo, khi muốn lấy điểm tựa vững vàng trên một nơi không quen thuộc hay khác thường này. Rồi ông phải tập trung nghị lực lại, để cho người nóng lên vì cảm thấy có vẻ lạnh, nghĩ đến cần có nước, áp xuất dưỡng khí, cả khi trong khoang bay chứa toàn thể các đồng nghiệp trong phi hành đoàn Apollo, Neil đứng sững nhìn chăm chú một lúc lâu cái thế giới bé nhỏ (bề mặt Trăng), nhưng không thể nào sờ mó hay đụng chạm vào được.

                                    Ông xúc cảm, vừa cảm nhận và vừa nghĩ thực là một phép lạ (miracle) đã cho mình đứng tại bề mặt Mặt Trăng này. Ông hồi tưởng đã cùng Buzz và toàn thể mọi người trong chương trình, muốn ngoài cái chuyện đi bộ trên bề mặt của bụi Mặt Trăng còn có các mục tiêu khác: đo gió Mặt Trời (solar wind), từ trường Mặt Trăng (magnetic fields), mức phóng xạ (radiation levels)…và cũng tự nghĩ là phải cố gắng để thực hiện hết các mục tiêu đã đề ra. Tất cả những điều này đều quan trọng cho một cái nhìn tổng quát về Trái Đất tuy mỏng manh nhưng tuyệt vời biết bao.

                                    Thình lình ông thấy lóe sáng trở lại chuyến đi ngoài không gian với Orville và Wilbur Wright, cùng hồi tưởng lại tất cả những gì mà hiện nay con người đã được hưởng, được nuôi dưỡng trên mặt Trái Đất rõ ràng là một phép lạ. Bởi vì đứng trên một vệ tinh gần xịt (Mặt Trăng) mới thấy được cuộc sống tại Trái Đất là duy nhất độc tôn. Phải nói là quý giá còn hơn hay ít nhất cũng phải nói tương đương như một viên ‘kim cương cứng rắn” đen óng ánh, và Neil hồi tưởng lại tất cả những ý nghĩ tư tưởng vặt vãnh thường ngày, như từ theo Đảng Dân Chủ hay theo Đảng Cộng Hòa hay Độc Lập hoặc vô chính trị, hoặc là theo Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Ấn Độ Giáo, Phật Giáo với thiên đường địa ngục tất cả đều vô nghĩa.

                                    Cái cuộc sống hàng ngày rất tầm thường mà chúng ta hưởng thụ trên mặt Trái Đất là quý giá biết bao, mà ta phải hiểu cái nguồn sống đó có giới hạn, để rồi trân trọng giữ dìn, chúng ta không thể cứ thản nhiên hay cứ vô tình phí phạm cái môi trường sống đó, hoặc làm tổn thương đến những ân huệ Trời ban phát cho này. Chỉ từ nơi xa lạ Neil mới thấy rõ cần phải thật cẩn thận, đánh giá cao sự cần thiết bảo vệ Trái Đất của chúng ta, vì nguồn gốc môi trường quý giá đó không phải là vô tận, mãi cho tới tận một ngày nào đó mà nhân loại sẽ thấy phải đi tìm một Thế Giới Mới khác.

                                    Neil ngưng suy nghĩ miên man mà tập trung hồi tưởng lại: ông và Buzz sẽ phải có vài giờ nghỉ ngơi, ông đã phải bắt đầu đi bộ dần dần ra xa khoảng an toàn của tầu đổ bộ Con Đại Bàng (Eagle).

                                    Nếu thực đúng nghĩa, thì ông đang phải tập đi (giống như một đứa con nít), chập chững, dò từng bước chân - cũng có thể ví như nửa đi nửa bơi, vì chân không cảm nhận được chạm đất, hay như trong một bể nước mà chập choạng tìm đáy bể nước – nổi trôi vì trọng lực (gravity) quá yếu nhẹ, lùng thùng trong bộ áo phi hành.

                                    Trên Trái Đất Neil nặng 348 pounds hay 158 kgs. Bây giờ trên Mặt Trăng ông chỉ còn nặng có 58 pounds hay 20 kgs nên ông nói với Trạm Kiểm Soát: “Tôi thấy không khó khăn gì nếu phải quay tròn. Tôi nghĩ còn dễ dàng hơn nữa khi tôi chỉ còn một phần tư (1/4) trọng lượng cơ thể. Ngay cả khi nếu muốn bước đi tản bộ thì  tôi cũng không thấy khó khăn rắc rối nào cả.”  

                                    Rồi nhớ tới nhiệm vụ, là Neil phải lấy một ít mẫu đất đá vì nếu lên gặp Chị Hằng thì việc lấy mẫu đất của Hằng Nga sẽ là việc làm hài lòng vui vẻ cho các khoa học gia. Nhưng ông lại tự nhủ, phải lấy phần đất ở chỗ có áng sáng Mặt Trời. Tiếp đến phải có camera, phải chụp ít hình nữa vì chính mắt không tìm ra được bóng râm.

                                    “Buzz ơi” Neil quay hỏi người đồng hành “anh có nhớ mang camera xuống không?”

                                    Buzz trả lời ngay: “Tôi sẵn sàng đây. Tôi cũng nghĩ là chúng ta phải quay chụp lại nhiều hình ảnh thực rõ ràng, chúng ta không thể khinh thường với nguyên toàn bộ dụng cụ của LEC (Lunar Equipement Conveyor: phương tiện mang theo phần đổ bộ). Tất cả mọi thứ đều nguyên vẹn toàn hảo.”   

                                    Neil rờ vào camera treo lủng lẳng trước ngực, bước lên phía trước để chụp một số hình ảnh. Đây là những bước chân đầu tiên trên Cung Quảng, ông nhìn ngắm các vết chân, và như muốn thử đá đá vài cái. Ông cũng nhìn lại Con Đại Bàng (tầu đổ bộ) cùng kiểm soát các dụng cụ mang theo khi bước ra xa. Ông phải cẩn trọng với từng bước chân trong cuộc tản bộ này.

                                    Tại Trung Tâm Không Gian Bruce McCandless gọi: “Neil, chúng tôi muốn chờ anh chụp cho ít bức hình quý giá để giữ làm mẫu nhé.”

                                    Neil đừng đụng đậy, vì nếu không anh sẽ làm mất hết các vết giầy quý giá, rồi McCandless tiếp: “Neil, đây Trung Tâm Không Gian Houston anh phải biết các vết giầy của anh sẽ đi vào lịch sử loài người.”

                                    Không ai có thể đánh giá được sự quan trọng của các vết giầy này, nên Neil bảo với Bruce: “Tôi cũng cố gắng hết sức mình để hoàn thành cho được các bức hình quá quý giá như thế này đây.”

                                    Trong khi đó Buzz phải quan sát chuyện Neil chụp hình mà còn đang từ từ bước đi tại cả khu vực trên rồi bảo: “Neil, chụp cẩn thận cả chỗ này nữa.”

                                    Neil trả lời: “Vâng, thật tuyệt.”

                                    Buzz đồng ý: “OK, đúng rồi.”

                                    Sau đó Buzz bảo: “Anh có sẵn sàng cho tôi cùng ra chưa”

                                    Neil nói: “Vâng.” Buzz theo sát các chỉ bảo của Neil rồi tiếp: “Tôi có bước ra ngoài giới hạn không”.

                                    “Anh đi đúng trong giới hạn vùng đổ bộ.”

                                    Buzz lại nói: “OK, bây giờ tôi muốn quay lại đóng bớt cái cửa đổ bộ” rồi nhanh chóng tiếp “cùng kiểm soát lại chắc chắn là chúng ta đã không khóa cửa khi bước hẳn ra ngoài.”

                                    Neil đồng ý: “Một ý kiến hay rất tốt” sau đó có một tràng cười từ Trung Tâm Kiểm Soát (Mission Control) Houston.

                                    Đến lượt Buzz vừa chậm rãi xuống vừa nói: “OK tôi đã đến bước sát bực cầu thang đầu, nhưng tôi không thể cúi nhìn bực đầu tiên. Giản dị là không thể nào nhìn thấy từng bực một tiếp theo.”

                                    Neil đồng ý: “Đúng, tôi cũng cảm thấy rất dễ dàng lúc xuống và bước đi cũng dễ dàng nữa.” Neil ngưng một chút đủ để Buzz tiến hành cử động rồi tiếp: “Anh bước ba bước nữa rồi bước một bước dài.”

                                    “OK, tôi sẵn sàng xuống rồi, mỗi bực chắc một foot, tôi đưa hai tay ra phía trước, bỏ thõng xuống chứ gì.”

                                    “Đúng rồi, anh xuống đi.”

                                    “OK, Bây giờ chắc tôi phải làm như thế nữa chứ gì.”

                                    “Anh nhích thêm chút nữa.” Neil khuyến khích “chỉ khoảng một inch nữa thôi” im lặng một chút rồi: “Đấy anh bước đúng rồi.”

                                    Một người thứ hai đã bước trên bề mặt Mặt Trăng, Neil mừng rỡ đón Buzz ngay bực thang cuối cùng, đồng thời họ nghe tiếng cười vang ở Trung Tâm Điều Khiển (Mission Control) tại Houston.

                                    “Ôi hoang vắng lẻ loi” Buzz kêu lên khi thấy bầu trời đen kịt (đối với bầu trời xanh trên Trái Đất). Không trời xanh tươi mát. Không bóng chim. Cũng chẳng mầu xanh cây cỏ. Chỉ nhiều bóng xám cả vùng nếu không nói là mầu đen đáng ghét của vài hòn đá giữa ánh Mặt Trời, nhưng cũng có thể là một vùng “không mầu sắc” rõ rệt hay chỉ là một đám bột được chiếu sáng.

                                    Mặt đất vòng xuống rõ ở chân trời, có lẽ chỉ bằng nửa khoảng nhìn đến chân trời mà Neil và Buzz đã quen thuộc ở Trái Đất. Nhưng tại Mặt Trăng này họ cảm nhận được thật rõ là mình đứng trên một quả cầu, vì thế cho nên khi bước đi hay nhìn xuống họ thấy những hoạt động này cũng lạ thường. Mỗi chuyển động đều như nửa bước đi nửa bơi trong môi trường, đôi giầy ủng (boots) của họ tung bụi, nhưng nhanh chóng rơi xuống bình thường lại ngay vì không có không khí, họ cố gắng thử chạy nhưng không được. Và khi cố gắng làm giống võ sĩ, như muốn nâng một vật nặng hay tăng vận tốc (với động năng) thì họ phải ngưng lại ngay vì thấy rõ là không thể làm được.

                                    Rõ ràng là họ đang trên một sân chơi rất mới mẻ của một trường học, thế nhưng liệu họ có thể chơi nhẩy thỏ, nhẩy dây hoặc nhẩy chân sáo như bọn học trò, rồi liệu họ có thể đi tìm xem mọi xó xỉnh, mọi vết nứt nẻ trên sân trường.

                                    Chợt cả hai người đều muốn uống thử (nước) trên cái vùng mới mẻ xa lạ rất đẹp đẽ và thích thú này, cả Neil và Buzz đều đi về nơi có đồ tiếp tế ăn uống.

                                    Đầu tiên họ điều chinh lại máy quay (camera) hướng vào khoảng 60 feet (18 m) kể từ khoang đổ bộ Con Đại Bàng, điều này giúp họ có thể quan sát nhìn thấy (như trên Trái Đất) những gì họ muốn.

                                    Tiếp theo họ phải nhớ tới nhiệm vụ là dựng lá cờ Hoa Kỳ (Mỹ). Bởi vì theo quy ước quốc tế không một nước nào được chiếm (sở hữu) Mặt Trăng, dù họ có là người đầu tiên có mặt nơi đây. Đó là điều ghi rõ ràng trên tấm bảng (plaque) mang từ Tầu Đổ Bộ Con Đại Bàng (Eagle).

                                    “Cho những ai dù chưa đọc tấm bảng này.” Neil nhắc lại “Nơi đây con người đã tới từ Trái Đât, họ đặt bước chân đầu tiên lên Mặt Trăng Tháng Bẩy (July) năm 1969 AD. Chúng tôi đến đây với mục đích Hòa Bình cho toàn thể nhân loại. Cùng với chữ ký của tất cả thành viên chuyến bay cùng chữ ký của Tổng Thống Hoa Kỳ.”

                                    Sau đó Neil và Buzz dựng một lá cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, mặc dù nó không thể phất phới vì trên Trăng không có không khí. Bề mặt đất trên Trăng khá cứng cho nên họ rất khó dựng cho thẳng lên được. Một lần nữa họ quay trở lại để có thể nhìn thấy rõ hơn trên màn hình mầu của máy quay phim camera (chỉ 16 mm) trên cửa sổ của phi thuyền đổ bộ Con Đại Bàng.

                                    Bây giờ còn vài việc khác phải làm.

                                    Trên lớp bụi Mặt Trăng, Neil và Buzz đã để lại những lời lưu niệm chúc tụng cho năm phi hành gia Hoa Kỳ và Liên Xô quá cố, cùng một cái xe nhỏ - làm riêng cho danh dự - mang riêng bởi Neil. Nó cũng không bí mật gì. Đó chỉ là một núm bằng kim cương chế đặc biệt cho Deke Slayton là một trong ba người của chuyến bay Apollo 1 vì ông này cũng đi trên chuyến bay bị phát hỏa.

                                    Còn một điều nữa rất đặc biệt cho Neil là ông muốn ghi một kỷ niệm đáng nhớ cho cuộc đời dù chưa hoàn tất, nhưng ngắn ngủi của chinh mình (so với vạn vật) khi “từ dã” rời khỏi Mặt Trăng, là điều mà ông tâm niệm.

                                    Có thể nói cả tỉ người trên Mặt Đất đang theo dõi cuộc thám hiểm này, Neil sửa lại cái television camera (máy chụp nối thẳng vào hệ thống vô tuyến truyền hình) cho đúng vào giới hạn tần số dây cables. Bây giờ nhìn đã rõ hơn nên CapCorn vội bảo Neil là: “Chúng tôi thấy hình rất rõ nét Neil ạ” tiếp theo ngay là: “Xin cố gắng để có thể nào mà anh hướng máy chụp, làm sao cho chúng tôi thấy cả hai anh (Neil và Buzz) trong cùng một lúc khoảng một phút được không.”

                                    Neil trả lời nói ngay: “Xin nhắc lại, Houston.”  

                                    “Xin quay chụp cho chúng tôi lại một lần nữa, để có một cái nhìn tổng quát tất cả vùng mà anh đương đứng trong một phút.”

                                    Buzz vì đang loay hoay ở khoảng giữa nên khi nghe lệnh, liền vội vàng di chuyển đến ngay trước ống kính camera.

                                    Dưới đất CapCorn Bruce Mc Candless lệnh tiếp và bảo: “Cả hai Neil và Buzz. Hiện giờ Tổng Thống Hoa Kỳ đang ngồi tại văn phòng, ông đang muốn có ít lời chia xẻ với các anh nữa này”.

                                    Neil trả lời: “Chúng tôi rất hân hạnh ạ.”

                                    “Xin Tổng Thống cứ nói tiếp lời đi. Đây là Houston gắn tiếp”.

                                    “Hello (Chào) cả Neil và Buzz.” Tổng Thống Richard Nixon bắt đầu nói: “Chính tôi đang tiếp chuyện qua điện thoại với hai anh từ Phòng Bầu Dục ở Tòa Bach Ốc đây, chắc chắn là một cuộc điện thoại lịch sử chưa từng bao giờ xẩy ra. Tôi quá xúc động không thể nào bầy tỏ hết được niềm hãnh diện, đối với những gì mà chúng ta (các anh và tôi) những người Hoa Kỳ đang làm. Đây cũng là những thời điểm hãnh diện nhất cho cuộc đời của chúng ta. Và cho dân tộc Hoa Kỳ cũng như cho mọi dân tộc trên thế giới, tôi cũng bảo đảm đây là một thành công rực rỡ vô biên mà nước Mỹ chứng kiến. Bởi vì không riêng gì cho loài người nhưng tôi nghĩ là chính Thượng Đế cũng tham dự trong chuyện này với nhân loại. Khi mà các anh đứng nói chuyện với tôi từ Biển Êm Ả (Sea of Tranquility) trên Mặt Trăng, tôi nghĩ điều này biểu lộ là chúng ta đã gắng hết sức mình cho hòa bình và êm ả cho Trái Đất. Thật là một thời điểm vô giá cho toàn thể lịch sử loài người, cho tất cả những ai trên mặt Địa Cầu (Trái Đất) này, là điều hãnh diện tự hào, tự hào về những gì mà các anh đang thực hiện, chúng tôi cũng xin nguyện cầu cho các anh quay về Trái Đất trong các điều kiện an toàn.”

                                    Một lúc im lặng kéo dài, một sự im lặng đầy trân trọng có lẽ do sự đang lắng nghe của cả thế giới, sau đó Neil lên tiếng: “Xin cảm ơn Tổng Thống. Đúng là một danh dự cao quý cho chúng tôi ở nơi đây, để đại diện cho Nước Mỹ và cho tất cả những ai yêu chuộng Hòa Bình trên toàn thế giới, và những ai muốn tìm kiếm các điều lý thú bởi óc tò mò, hoặc đang mang một viễn kiến cho tương lai. Và cũng là một danh dự hãnh diện cho những người đang tham gia việc làm này ngày hôm nay.” 

                                    Tổng Thống Nixon lại bảo Neil: “Cảm ơn anh vạn bội và tôi cũng đang ngóng trông về phía trước (tương lai) cũng y như các anh vậy, và mong gặp lại các  anh tại Hornet ngày Thứ Năm (Thursday) này”.

                                    Buzz nói tiếp: “Thưa Tổng Thống, chúng tôi cũng luôn mong mỏi đúng như vậy.” Cả Neil và Buzz đều mong đến ngày khi trở về Trái Đất sẽ được đi chu du vòng quanh thế giới, một vòng tới mọi quốc gia, mà ở đó tất cả ai ai cũng thấy mình là “Chúng ta” chứ không phải chỉ riêng gì trong dân nước Mỹ, ai ai cùng nói: “Chúng ta đã làm điều đó. Chúng ta đã tới Mặt Trăng.”

                                    Nhưng điều hơn thế nữa là khi Buzz đánh giá về Biển Êm Ả (the Sea of Tranquillity), nó không giống như ước lượng lúc ban đầu. “Biển” không có nước (Mặt Trăng) nhưng chỗ nông chỗ sâu, rồi nữa vì chịu ảnh hưởng khủng khiếp trực tiếp do không có bầu khí quyển của năng lượng Mặt Trời, mà do vậy bây giờ phải đặt máy dò động đất (hay Động Trăng: Moonquakes), rồi lại cả máy phóng tia Laser, sẽ phản chiếu về Trái Đất để nghiên cứu, cho các khoa học gia dùng để tính toán thật chính xác khoảng cách Mặt Trăng tới Trái Đất (chỉ sai vài mét). Cả Buzz và Neil phải thực hành nghiêm chỉnh do tại Đài Kiểm Soát (Mission Control) chỉ cho làm những công việc này, nếu không đúng mà cần sửa thì cũng chỉ được cho thêm 15 phút (extra) vì tất cả thời gian làm việc đã được tính toán kỹ hết từ trước rồi.

                                    Khi cả hai đã đặt máy dò Động Trăng (động đất trên Mặt Trăng) chạy bằng năng lượng Mặt Trời tại Biển Êm Ả rồi, vì đây là một dụng cụ quan trọng cho nghiên cứu khoa học, Neil rời Buzz để đi tung tăng quanh vùng đổ bộ, quan sát nhìn ngắm mọi thứ để khám phá riêng ông.

                                    Ông nhanh chóng xua đuổi mọi ý nghĩ vẩn vơ để chạy tới coi hẳn một lỗ (crater) trên Trăng, có kích cỡ khoảng gần một sân đá banh mà khi hạ cánh phi thuyền thì ông đã cố tránh cái lỗ này. Bây giờ ông lại thấy như nó nhỏ hơn lúc ban đầu, chỉ còn ước vào khoảng 200 feet (60 mét) thôi.

                                    Neil nghĩ, đúng là một lỗ thực xinh xắn (baby crater). Ông mỉm cười với ý kiến ngộ nghĩnh này, ông nhớ lại đứa con gái hai tuổi của ông và Janet bị bỏ (tử vong) vì nó đã mang bệnh do khối u trong não, ông đứng lặng đi hồi lâu. Bây giờ ông đứng đây nhớ tới đứa con bất hạnh tên Muffie vừa nhìn ngắm, nhìn cái lỗ xinh xinh, ông nghĩ tới chuyện đất đá trên Trăng mà các nhà Địa Chất học mong muốn. Nhưng bây giờ phải tĩnh trí. Dù việc gì thì cũng phải có góp ý của Buzz.  

                                    Thế rồi với nhiệm vụ, ông cố chụp thực rõ nét các bức hình lịch sử trước khi quay trở về phi thuyền, vì Cơ Quan Kiểm Soát (Mission Control tại Houston) đang lệnh bắt Buzz là phải cắm cho kỳ được cái cọc kim loại lên trên bề mặt Mặt Trăng. Nhưng trước khi làm việc này thì phải dùng camera chụp toàn bộ cảnh phi hành trưởng của Apollo 11 (chính là Neil), đang phải vận chuyện tất cả mọi dụng cụ mang lên Trăng ra khỏi Con Đại Bàng (Eagle).

                                    Neil lại miên man nghĩ là dù một triệu năm nữa, nếu ông còn sống để quay lại Mặt Trăng, thì ông vẫn thấy cảnh này nguyên vẹn không suy suyển, mà ý thức được rằng đây chỉ là một xó xỉnh (small corner) của hệ Mặt Trời. Như vậy tất cả những hình ảnh mà ông và Buzz mang về Trái Đất là “vô giá” (priceless).

                                    Ông lững lờ bước trở lại Con Đại Bàng cùng người đồng hành (Buzz), cảm nhận được tiếng động khi cố gắng bơm đầy dưỡng khí (oxygene) vào trong khoang phi thuyền trở về - bởi vì khi đã mở mũ bảo hiểm với bộ quần áo phi hành ra – ông sẽ lại được hô hấp bình thường, nhưng vẫn như còn ngửi thấy rõ y như có mùi tro (ashes) hay là mùi thuốc súng (gunpower), mà các phi hành gia sẽ mang theo những “mùi Mặt Trăng” lạ lùng này về Trái Đất chăng.

                                    Sau đó còn có đến 12 (mười hai) người Mỹ nữa, hoặc đi bộ hoặc chạy Xe Trăng Apollo (Apollo’cars) trên Mặt Trăng tiếp theo nữa, cho mãi tới năm 1972. Từ đó đến nay không có một người nào “thăm” Chị Hằng nữa hết.

                                   

 

Tác Giả Bài Văn
Bùi Trọng Căn