Ý  N G H Ĩ A  C U Ộ C  Đ Ờ I .

 

                                    Chuyện đi tìm ý nghĩa cuộc đời từ xa xưa cách nay hơn 2000 năm bên phương Tây đã có triết gia hay “người khùng” Diogènes ở thành Athens thắp đuốc lang thang ngoài đường để tìm Một Người sống “có ý nghĩa”. Cùng thời bên phương Đông cũng có Lão Tử coi xem chuyện đời thường không ý nghĩa gì chỉ như là “vô vi” khi cố gắng tìm hiểu bản thể vũ trụ. Dẫn đến chuyện Trang Tử cũng nghi ngờ cho ý nghĩa của cuộc đời mà phải đặt câu hỏi “không biết mình là bướm hay bướm là mình nữa”.

                                    Triết gia phương Tây cổ có Aristotle (học trò Plato) được mô tả là người chân tay “lẻo khoẻo lèo khoèo”, mắt ti hí mà lại còn có tật nói ngọng nữa, vì thế ông ta lúc nào cũng phải diện quần áo thật chải chuốt để bù lại. Chính các triết gia cổ Hy Lạp này đã viết sách về cách nhìn (phương pháp) quan sát vũ trụ tạo nền móng cho khoa học ngày nay giúp đi tìm ý nghĩa cuộc đời của nhân loại.

                                    Rồi vượt khỏi Trung Đông sang tới bán đảo Ấn Độ cùng thời có một ông Vua “lẩm cẩm” kiêm triết gia tên Bindusara. Chuyện kể rằng ông Vua này xin với Vua của nước Syrie là Antiochus cố tìm giúp gửi cho ông ta một triết gia Hy Lạp, trong thư còn nói rõ ràng là cần thứ triết gia Hy Lạp “chánh hiệu” (con nai vàng) mói được. Đề nghị không kết quả vì Vua Antiochus kiếm đâu ra một triết gia để bán.

                                    Về đối nội thì ông Vua này cai trị đất nước y hệt như ông nội ông, nghĩa là tuy có tàn ác đấy nhưng đàng hoàng. Chính cùng thời gian đó là lúc nhà sư Huyền Trang từ Trung Hoa lưu lạc sang Ấn Độ thỉnh Kinh Phật Giáo, đến khi về lại Tầu sư viết sách kể câu chuyện về một trại tù khủng khiếp ở nơi đây mà truyền thuyết gọi là “địa ngục Acoka”, vì tại nơi này người ta đã dùng đủ mọi cực hình có thể tưởng tượng được ra để tra tấn tội nhân. Một hôm có một vị “thánh tăng” lớ ngớ làm sao vô cớ bị bắt vô rồi bị liệng vô vạc dầu mà không chết. Tên cai ngục thấy hiện tượng kỳ dị vội tâu lên Vua, mà lệnh Vua là không để một kẻ nào có thể sống sót ra khỏi ngục, vì vậy chính tên cai ngục lại phài bị liệng vào vạc dầu cho Vua chứng kiến tận mắt.

                                    Khi về tới cung điện tự nhiên nhà Vua cảm thấy rất hối hận, ngay lập tức thay đổi hẳn tính nết, Vua liền ra lệnh phá bỏ khám đường kể trên, thả hết cả mấy ngàn tù, lại còn biên thư xin lỗi bên địch nữa. Thật là một hành vi vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại, sau đó nhà Vua chỉ bận áo vàng, cũng không đi săn bắn, không ăn mặn nữa, chính thức theo đường Bát Chánh Đạo, qui y Phật Giáo. Vua đã “ngộ” hay hiểu ý nghĩa cuộc đời ngược hẳn lại theo một hướng khác.

                                    Riêng trong lịch sử của Việt Nam có ghi lại rằng Vua Lê Thánh Tôn một hôm ngẫu hứng làm ra hai câu thơ “ngạo mạn” đúng là khẩu khí của một ông Vua (thời trung cổ) kiểu như sau:

                                    Tay ngọc lần đưa thoi nhật nguyệt,

                                    Gót vàng giậm đạp máy âm dương.

                                    Khoa Thiên Văn Hoc cho ta biết nhật, nguyệt, âm, dương tuần hoàn là do “lực hấp dẫn vạn vật” của thiên nhiên như Newton đã phát biểu từ hồi thế kỷ trước. Thế mà ông Vua Lê này cố tình hiểu ý nghĩa của cuộc đời mình một cách “huênh hoang” quá sức, ông siêu hơn cả các khoa học gia ngày nay, ông nghĩ có thể dùng “tay, chân” của một ông Vua (như ông) để điều khiển tất cả các định luật thiên nhiên vũ trụ mà cho mãi tới giờ nhân lọai hiện vẫn còn đang phải cố gắng đi tìm tòi nghiên cứu.

                                    Thế rồi bước sang thời nay lại có nhiều người đã bị rơi vào trường hợp rất ngộ nghĩnh, đó là chợt “tỉnh ngộ” ra đương lúc trong ngôi nhà của chính mình, vật vã khóc lóc làm đúng y như kiểu mới bị lạc vào một thế giới xa lạ nào đó, hay mới tỉnh lại từ một cơn mê ngủ qúa say. Vì thế anh ta phải vội định trí đi tìm lại “ý nghĩa cho cuộc đời” sau khi đã sống qua quá nhiều năm (gần 10 năm) trong một “thế giới ảo internet” do chỉ giao tiếp với tòan các “nhân vật ảo”, báo chí đã phải đăng phổ biến cái tin rất thật “khó tin” này tại một tỉnh ở bên Trung Quốc (không thấy nêu rõ địa chỉ).

                                    Anh ta cũng đã nói rằng khung cảnh chung quanh, từ nhà cửa cây cối đường xá cho đến các sinh hoạt quen thuộc thường ngày, mà bây gìờ đối với anh lại biến thành hoàn toàn xa lạ đúng y như “từ trên trời rớt xuống”. Rồi anh phải thú thực với bà mẹ ruột rằng anh bị “lạc lõng” trong cuộc đời thường có lẽ do bởi là “con một” được cha mẹ qúa nuông chiều. Chính vì vậy cha mẹ đã tạo điều kiện cho phép anh ngồi “liền tù tì” trước máy điện tóan (computer) qúa nhiều năm tháng để cho đến nỗi gây nên tình huống quá ly kỳ vô tiền khóang hậu như vậy. Cầu chúc cho anh sớm tìm được công ăn việc làm như mọi người và hiểu ra “ý nghĩa cuộc đời” hơn.

                                    Ngược với anh chàng trên là trường hợp các khoa học gia ngày nay, họ đã phải cố gắng đi tìm ý nghĩa cuộc đời bằng cách vùi đầu khảo cứu để tìm biết chuyện triết gia Aristotle tưởng tượng ra vật chất cấu tạo từ “nguyên tử” thì thực sự có nguyên tử hay không? Cuối cùng với bao khó khăn họ đã mầy mò mô tả ra được hình ảnh nguyên tử cho mọi người biết: gồm có nhân (nucleus) là chính ở giữa cùng nhiều điện tử (electron mà số lượng tùy thuộc lọai nguyên tố) luôn chạy chung quanh nhân.

                                    Đầu tiên họ đã phải xếp lọai đặt tên cho các hạt điện tử (electron) thuộc lọai nhóm Leptons bao gồm luôn cả các lọai hạt “muon” và lọai hạt “tau”. Sau này họ còn biết trong nhóm leptons lại có thêm cả lọai hạt “electron-neutrino”, lọai hạt “muon-neutrino” và lọai hạt “tau-neutrino” nữa. Đời thường chúng ta chỉ “cảm nhận” ra được hạt điện tử (leptons) khi tiếp xúc dòng điện và bị điện “dựt”.  

                                    Trong nhân nguyên tử thì thường có các lọai hạt proton (mang điện) và lọai hạt neutron (không mang điện). Các hạt proton và hạt neutron được cấu tạo  thành từ những “siêu hạt” ( vì quá nhỏ) gọi là quarks mang điện (có điện lượng hoặc “dương” hoặc “âm”). Khi lúc các quarks phối hợp với nhau để tạo thành “hạt” hoặc ra neutron hoặc ra proton: thì nếu tổng điện lượng của quarks triệt tiêu nhau, chúng ta có lọai hạt neutron; còn như nếu trường hợp tổng điện lượng của quarks không triệt tiêu nhau được, chúng ta phài có lọai hạt proton. Những siêu hạt quarks mà các khoa học gia phát hiện thấy bao gồm các lọai như sau: siêu hạt quarks “lên” (up) mang điện dương +2/3, siêu hạt quarks “hút” (charm) mang điện dương +2/3, siêu hạt quarks “đỉnh” (top) mang điện dương +2/3; chúng sẽ kết hợp với các siêu hạt quarks âm gồm: siêu hạt quarks “dưới” (down) mang điện âm -1/3, siêu hạt quarks “lạ” (strange) mang điện âm -1/3 và siêu hạt quarks “đáy” (bottom) mang điện âm -1/3.

                                    Đến đây với thắc mắc của “khoa học nguyên tử” các chuyên gia lại phải đặt nhiều câu hỏi tiếp theo: Tại sao với mớ “hổ lốn” các leptons và quarks (bàn tay bí mật của Thượng Đế đã can thiệp) sắp xếp cách nào cho các lọai hạt này luôn luôn tạo thành những nguyên tử: có nhân là các quarks (tức protons hay neutrons) ở giữa, cùng electron (leptons) chạy chung quanh? Rồi nữa ở trong nhân nguyên tử thì tại sao quarks lại luôn luôn “dính” với nhau để làm thành proton và neutron? Hơn thế còn phải đặt câu hỏi tiếp là chính những nguyên tử đã tiếp xúc “giao thiệp” trao đổi với nhau như thế nào để các phản ứng hóa học có thể xẩy ra cho tòan thể vật chật ở quanh ta? Với nhiều nghiên cứu cùng tìm tòi khổ ải, chỉ 15 năm trở lại đây nhân lọai mới biết được gần như rõ ràng chính xác các trả lời cho những “thắc mắc” nêu trên.

                                    Các khoa học gia đã giải nghĩa được do xác định 3 lọai lực (forces) của tạo hóa (hay Thượng Đế): vấn đề lạ lùng ở đây là tuy những lực giống “sóng” vô hình trong thiên nhiên, nhưng lại phải mô tả chúng như các “hạt” hữu hình gọi chung là lọại Bosons. Kể đầu tiên nhất là lọai lực điện từ (electromagnetism) đối với các hạt “nhiễm” có mang hoặc không mang điện (đã bị triệt tiêu) mà thuật ngữ chuyên môn gọi là “color” (“mầu” ở đây có nghĩa khác hẳn không phải như nghĩa thường dùng chung của mầu sắc xanh đỏ tím vàng). Điển hình của những “sóng lực điện từ” vô hình (invisible) lại thường được mô tả giống như các “hạt hữu hình” (visible): thí dụ như trong trường hợp sóng ánh sáng (nhìn thấy) là sóng điện từ, mà khoa học gia đã giả sử là cấu tạo của nó lại bao gồm từ các “hạt” gọi là quang tử (photon). Tất cả các lọai “hạt” trong nhóm bosons này như ánh sáng đều không có trọng lực (mass).

                                    Lọai thứ hai gọi là lọai “lực yếu” (weak) tác dụng làm cho hạt neutron (không có điện) có thể biến thành hạt proton (có điện) cùng lúc thải ra leptons. Lọai lực yếu (sóng vô hình) này được mô tả như là những “hạt” hữu hình mang các tên là hạt Z-bosons (không có điện) hoặc là hạt W-bosons (có điện). Lọai lực thứ ba gọi là lọai “lực mạnh” (strong) cũng là sóng vô hình: chính lực này coi như chất keo dính kết các siêu hạt quarks lại với nhau (để cho proton hoặc neutron), nhưng lại được mô tả như là các “hạt hữu hình” mang tên gluons không mang điện và không có khối lượng (mass).

                                    Toàn thể các lọai “hạt hữu hình” hay “sóng lực vô hình” của vật chất kể trên đều chịu ảnh hưởng của một lực khác gọi “lực hấp dẫn vạn vật” hay coi như đặt trong một môi trường (field) mà các khoa học gia đặt tên là “trường Higgs” (Higgs’s field). Trường này cũng được biểu tượng bằng các “hạt Higgs” (hữu hình) mang khối lượng (mass) rất lớn, gấp nhiều lần hơn tất cả các lọai “hạt” vật chất khác như đã kể ở trên (nhưng những hạt Higgs không mang điện).        

                                    Như vậy thực sự vật chất trong cuộc đời chúng ta là “hữu hình” với các nguyên tử được mô tả một cách khoa học như tưởng tượng của triết gia Aristotle hay “vô hình” tức cũng chỉ là ảo giác theo như các triết gia Lão Trang? Lại như khoa học ngày nay thường mô tả “không-thời-gian” là hữu hình đối với cuộc sống của ta, mà thực ra điều mô tả này chỉ tùy thuộc vào cảm giác hay “nhận thức” rịêng biệt từ giác quan thôi (tức hoặc khi thì như là “sóng ảo” rồi lại hoặc khi thì như là “hạt thật”). Tình huống chuyện khoa học mô tả ra “không-thời-gian” giống hệt hay cũng chẳng khác nào trường hợp của một con nhện đã tự dệt ra “mạng nhện” (nghĩa là không-thời-gian quanh ta cũng giống mạng nhện của con nhện tự dệt). Nói cách khác nếu không có chúng ta thì cũng sẽ không có không-thời-gian trong cuộc đời chung quanh ta, y như hệt chuyện không có nhện sẽ không có mạng nhện. Vì thế muốn xác nhận rõ ràng là cuộc đời này cùng cảnh vật chung quanh (mang ý nghĩa) là “mộng” hay là “thực” thật khó (difficult) lắm thay.

                                    Cách nay hơn 200 năm vật lý gia người Mỹ George Berkeley với luận lý rất phương pháp và rất khoa học của phương Tây cũng đã lại rơi vào nhận thức: với câu hỏi hay có sự nghi ngờ, không biết có phải chính mình là “nhện” không? Nghĩa là lòai người đã tự dệt ra không-thời-gian cho các quan sát khoa học (giống y hệt Lão Trang đặt câu hỏi không biết có phải mình là “bướm” không?) để biến ông từ một “vật lý gia” xuất sắc đồng thời lại trở thành một “triết gia”.

                                    Sự thực là chuyện này rất cổ xưa vì suốt từ nhiều thế kỷ biết bao bậc uyên bác cũng đã vẫn tự hỏi không biết sự vật quanh ta “có thực” (existence) hay không? Cho tới ngày nay cũng vẩn rơi vào trường hợp “luẩn quẩn” là khoa gọc gia tuy rất muốn chứng minh rành mạch, nhưng cuối cùng vẫn phải chịu nhận buớc đầu theo một “định đề” (giống y như định đề Euclide căn bản của hình học: không chứng minh được) tiên khởi là có sự hiện diện không-thời-gian “nằm ngòai” độc lập với chúng ta. Rồi câu chuyện sau mới được nối tiếp theo. Kể từ năm 1920 khi môn vật lý lượng tử (quantum physics) ra đời, lúc đó cho thấy khi qua những thí nghiệm khoa học (thực hiện trong “thế giới của nguyên tử”: world atomic) thì đã lại có các kết quả rất lạ lùng.

                                    Khi coi vật chất là “hạt” nó phải mang tính giống như một viên đạn, chỉ xuyên qua đúng “một lỗ” trong màn hình thôi, thế mà lúc quan sát thí nghiệm vật lý nó lại chui qua được tới “hai lỗ” trong cùng thời gian (đổng thời), tức là mang đặc tính của “sóng”. Theo lý thuyết lượng tử, vật quá nhỏ không quan sát được (thí dụ như điện tử, quang tử) hiện ra rất “mù mờ” “hư ảo” luôn chuyển động như ma (phantom) hay nói cách khác là theo đúng “nguyên lý bất định” của Werner Hensenberg.

                                    Các nhà vật lý đã dùng phương trình tóan học (tóan xác suất) để mô tả chuyển động của hạt, nhưng khi muốn xác định tốc độ hay vị trí của hạt (tức ngay lúc nó đứng lại, hạt mới hiện ra để quan sát được), thì “khổ nỗi” ngay thời điểm đó phương trình lại bị “sụp đổ”, “đổ vỡ” (collapse) hay phương trỉnh trở thành vô nghiệm. Còn khi tạo hai “hạt cặp đôi” thí dụ như hai hạt electrons trong cùng một nguyên tử, cả hai chạy quanh nhau với cùng một (lọai) phương trình chuyển động, người ta coi như hai hạt “liên kết” hay “nối kết” (entangled) nhau. Thí nghiệm sau được thực hiện bởi khoa học gia Nicolas Gisin (tòng sự tại Đại Học Genève ở Thụy Sĩ) năm 1997, bằng cách xử dụng và quan sát hai quang tử “nối kết” (two entangled photons) nhưng phóng ra cách xa nhau tới 7 miles trong sợi quang học (fiber optic).

                                    Gisin muốn làm cho một quang tử phân cực qua gương theo chiều dọc (vertical polarity) rồi quan sát ghi nhận phản ứng của quang tử (nối kết) kia thì thấy nó lại luôn luôn tác động phân cực theo chiều ngang (horizontal polarity), ông muốn xem cách hai quang tử “trao đổi thông tin” với nhau như thế nào? Ông ghi nhận sự “thông tin” này xẩy ra rất nhanh, khỏang 10.000 lần nhanh hơn tốc độ ánh sáng hay kể như thông tin trong lãnh vực lượng tử qua không gian (khỏang cách) là “tức thời” hay “ngay lập tức”.

                                    Nhiều nghiên cứu gia khác lập lại xét nghiệm của Gisin và ghi nhận cùng kết quả. Vì thế cho tới nay không còn ai đặt các câu hỏi về bản thể “liên kết” giửa các hạt của ánh sáng, hay vật chất, hay giữa các “búi”, “cụm” nguyên tử nữa. Củng như lúc trước khi các xét nghiệm trên được mô tả, phần lớn các vật lý gia vẫn (độc lập hay một cách khách quan), mặc nhiên tin theo vũ trụ, nghĩa là phải đeo bám vào “định đề” là: sự hiện diện của vật chất (trong vũ trụ) luôn là tuyệt đối để đo lường, hay nói cách khác, vũ trụ là “có thực” không mơ màng như Lão Trang (bướm) hoặc Berkeley (nhện).

                                    Thế nhưng điều lạ lùng cho “sự thực lượng tử” của vật chất lại rất xa lạ với (hay ngược với) các quan sát cổ điển kể trên. Khoa học gia thấy vũ trụ không thể như “thế này” hay như “thế khác” tùy tiện (nghĩa là Thượng Đế đã không thể tự do sắp xếp làm theo ý muốn của mình) mà phài tuân theo các điều kiện để “sự sống” xuất hiện (hay phải tạo ra sự sống). Nhà vật lý vũ trụ Brandon Carter tại Cambridge phát biểu năm 1973 là vũ trụ phải luôn theo các điều kiện của đời sống hay nói rõ ràng hơn là nếu “không có sự sống” thì cũng sẽ “không có vũ trụ”.

                                    Muốn chứng tỏ vũ trụ “lệ thuộc” sự sống thì căn bản bắt buộc là  phải nhận sự hiện diện của hai yếu tố là: thời gian (time) và không gian (space). Lại cũng từ rất cổ xưa triết gia và (ngày nay) khoa học gia cùng đã luôn đặt câu hỏi: “Nhưng liệu “có” thời gian thật sự hay không? Liệu có thể định nghĩa được thời gian không?”

                                    Các vũ trụ gia đều công nhận là: không có thời gian độc lập (riêng rẽ) với đời sống, giống y như ý niệm của các triết gia và vật lý gia: khi chết (không có sự sống) sẽ tự động vào cõi vĩnh hằng (không có thời gian). Ý niệm về “quá khứ” (past) hay “tương lai” (future) hòan tòan chỉ là một cách ghi nhận của trí nhớ so sánh với “hiện tại” (present), hay chính nó cũng chỉ dản dị là một xung động điện-thần-kinh (neuroelectrical) của não bộ thôi. Cũng có thể là chuyện này chỉ xẩy ra ở não bộ chúng ta (con người) hay con người “chủ quan” trong nhận thức thời gian. Chưa chắc não bộ con cá, não bộ con gà, con vịt, con chim đã có các xung động này, nghĩa là lòai vật “khách quan” hơn chúng ta, chúng không cần mang “ý niệm thời gian” hay sự thực là “không có thời gian” hay nói một cách khác rất rõ ràng là thời gian không phải là một “thực thể” (tức không có) vì vậy không thể nắm bắt thời gian một cách cụ thể.

                                    Suốt từ thời Isaac Newton cho tới thời của cơ học lượng tử, chẳng ai mô tả được “bản chất” (nature of time) của thời gian hay làm được định nghĩa cho thời gian. Mà thực sự “thời gian” chỉ là sự “thay đổi vi trí” của sự vật (vật chất) trong không gian hay quang cảnh chung quanh ta: thí dụ buổi sáng trái đất ở một vị trí đối với mặt trời, buổi chiều thì trái đất đã thay đổi chuyển đến một vị trí khác đối với mặt trời rồi. Sự “thay đổi vị trí” mà ta gọi là Thời Gian đã rõ ràng không phải là một “thực thể” để bỏ vào phòng thí nghiệm làm xét nghiệm được.

                                    Ngay trong các phương trình tóan học ta cũng thường đặt các thời điểm thí dụ: gọi “t1” là thời điểm của mũi tên còn trên cung, gọi “t2” là thời điểm của mũi tên tới đích, các thời điểm này chỉ có gíá trị trên đúng các tọa độ của cung (điểm khởi hành) và tọa độ của đích (điểm tới). Rồi nếu bây giờ ta bỏ qua các thời điểm “t1” và “t2”, chọn một thời điểm nào đó chẳng hạn, nằm giữa là “tn” trên chặng đường khi tên đang bay, tọa độ này rõ ràng chỉ quan trọng là tốc độ bay, chặng đường chứ đâu phải kể gì đến (liên quan với) thời gian cho rắc rối. Hay thí dụ khác như chúng ta quan sát người thân trong cuộc sống quanh ta, thấy ai cũng gìà dần đi (theo thời gian) cho tới chết, (nghĩa là chỉ có sự thay đổi về sinh học) mà ta lại chủ quan đổ tội cho “thời gian đã tàn phá”. Vậy đâu mới là sự thực? chúng ta đã rất vô lý khi đặt tên “sự thay đổi” là “thời gian” chứ sự thực đã rõ ràng là không có thời gian.

                                    Về không gian chúng ta thường tưởng tượng theo quan niệm của Newton là một khối vuông giới hạn bởi sáu mặt phẳng là sáu hình vuông, trong khỏang này “trống rỗng”, chuyện này hòan tòan “sai”. Sự thực theo Einstein với thuyết tương đối tất cả mọi “vật” đểu luôn luôn tùy thuộc vào lực hấp dẫn vạn vật (gravity) và tốc độ (velocity) của vật. Khỏang không gian sẽ “đàn hồi” như một trái banh lúc to lùc nhỏ tùy tốc độ, và trong đó luôn chứa đựng một trường (field) cùng các hạt (particles).

                                    Vậy khoa học kỹ thuật “tiên tiến” nhất của thế kỷ 21 đã xác nhận “không-thời-gian” không có thực hay nói cách khác cảnh vật chung quanh ta đều là “ảo”. Chính chúng ta mới là “nhện khùng” chứ không phải Diogenes hayBerkeley. Chính Lão Trang đã chứng tỏ là các bậc “minh triết” “thánh nhân” khi biết mình là bướm để đánh gíá chính xác cho Ý Nghĩa Cuộc Đời.            

 

Tác Giả Bài Văn
Bùi Trọng Căn