Anh Nguyễn Thí, người Quảng Trị, Đại úy Pháo binh.

Tù cải tạo: 7 năm 5 tháng.  Hơn 10 năm trước không có ý định đi Mỹ.  Cuối cùng nộp đơn, khi phỏng vấn bị từ chối vì phái đoàn Hoa Kỳ nghi ngờ giấy tờ.  Anh em cùng khóa, cùng đơn vị và ở tù chung đồng tâm ký thỉnh nguyện thư mới giải được nỗi oan tình.

Portland ngày 22 tháng Ba năm 2009

Anh Nguyễn Thí thân mến:

Anh từ đầu Trung, tôi cuối Trung; chúng ta cách nhau 1/3 chiều dài đất nước.  Từ nghìn trùng xa cách, chúng ta đến với nhau, có duyên gần nhau trong thời gian tuy ngắn ngủi chỉ vỏn vẹn trên dưới 6 tháng tại quân trường Pháo binh Dục Mỹ, Nha Trang nhưng trong chúng ta đã nảy nở bao thứ tình, tình đồng môn, tình chiến hữu, tình của những người cùng chung số phận nghiệt ngã.  Anh em đa số nghiền ngẫm chưa thông suốt hết mấy quyển “lục thao tam lược” "binh thư đồ trận" và mồ hôi công sức đổ ra cũng chưa đủ thấm thao trường, thì chúng ta đã chính thức khoác chiến y tung khắp 4 phương trời.  Anh, miền Trung, đất cầy lên sỏi đá, miền tuyến đầu lửa đạn, rực lửa chiến tranh. Tôi "trấn thủ lưu đồn", cao nguyên đèo heo hút gió, miền đất đỏ mưa nhầy nhụa.  Ban Mê Thuột "bụi mù trời, xứ Thượng "buồn muôn thưở"...Tôi đến Ban Mê Thuột bằng phi cơ,12/1966, và rời Ban Mê Thuột bằng đôi chân, 3/1975 với tương lai đầy u ám.

Bạn anh, bạn tôi, bạn chúng ta nhiều người áo trận chưa phai màu đã vĩnh viễn ra đi khi tuổi vừa mới tròn đôi mươi.  Có anh cùng mang tên Thí như anh, anh Đinh Thí đã sớm trở về với cát bụi từ chiến trường Cao nguyên... Chúng ta may mắn còn sót lại sau cuộc chiến nhưng số phận hẩm hiu và đầy bất hạnh trước cảnh đổi đời thê thảm nhất trong dòng lịch sử dân tộc.  Nước mất nhà tan…thân mang tù tội…Số phận đã đưa đẩy chúng ta nhiều lúc như những gã nô lệ thời Trung cổ bị dìm xuống tận cùng của mọi khổ đau.  Sống trên quê hương mình mà lòng cứ ngỡ thân đang bị lưu đày, bị bơ vơ lạc lõng như người xa lạ, người không có quê hương.  Chúng ta ngậm ngùi an phận, âm thầm tủi nhục cho đến ngày chúng ta giã từ quê hương.  Không biết đến bao giờ ta và Quê hương gặp lại nhau!?

 

Anh Thí, anh cho biết mới tháng trước đây, người đại diện Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Sài Gòn đã hỏi anh câu đầu tiên: "Anh có biết những người đứng chung danh sách hậu thuẫn cho anh đang ở tiểu bang nào trên đất Mỹ?"  Chúng ta phải ngầm hiểu nhân viên Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ trước khi phỏng vấn anh chắc chắn đã đọc qua tờ tường trình, thấy bạn bè của anh có tên trong danh sách là những sĩ quan cùng cấp bậc Đại úy với anh, những người một thời đã hiên ngang chiến đấu vào sanh ra tử “lên Đông, Đông tĩnh, xuống Đoài, Đoài tan” và cùng chiến tuyến với quân đội Hoa Kỳ năm nào.  Vốn là những sĩ quan Pháo binh QLVNCH, nhiều năm trong lửa đạn, kinh nghiệm chiến trường, chiến đấu sống còn để bảo vệ miền Nam Tự Do đã bị cuốn theo cơn lốc, bị cuốn theo vận nước đã đến hồi nghiêng ngả.  Trong anh trong tôi còn lại những hình ảnh khá đậm nét của quê hương trong thời chinh chiến, nhất là những hình ảnh của chính mình, với bao kỷ niệm thân thương và đầy bất hạnh đã xuyên suốt đời mình.  Anh Thí, sen dù bị dìm xuống sình, sống gần sình, sen vẫn là sen.  Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.  Ngày hôm nay chúng ta có thể ngước mặt lên tự hào một thời là những Sĩ Quan QLVNCH, có danh dự và trách nhiệm, sẵn sàng đương đầu với nền Công Lý Hoa Kỳ để bảo vệ sự thật bởi vì sự thật đang bị ngờ vực. Chúng tôi cùng khóa với anh, cùng hoàn cảnh như anh đã đồng tâm ký thỉnh nguyện thư; mong anh được đến bến bờ tự do, và luôn luôn nguyện cầu anh và gia đình sớm được hưởng chính sách nhân đạo của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Ngày xưa có người dám băng mình trong lửa đạn để cứu đồng đội đang bị trọng thương.  Hành động thật can trường dũng cảm, đáng ca ngợi.  Anh Thí, chúng tôi không dám tự ví việc làm của mình với hành động dũng cảm của người chiến sĩ trên nhưng dù sao cũng nói lên được tấm lòng nhiệt thành, tình cảm sâu xa của anh em đối với anh, đối với một đồng môn, một đồng đội cùng chiến đấu và cùng trải qua những ngày tháng triền miên đau khổ.

 

Bài học “Hợp quần nên sức mạnh”, “L’union fait la force” ngày nào của anh em Sĩ quan pháo binh Khóa 22 Thủ Đức đã thay đổi cuộc đời của người bạn và gia đình. Tất cả anh em vô cùng hân hoan và mãn nguyện; cuối đời còn làm được một việc quá thành công.  Mong được san sẻ niềm hạnh phúc với gia đình anh Thí.

 

Anh Thí, cách đây hơn 17 năm (7/1991-3/2009) khi tôi vừa đặt chân đến Mỹ, biết có người đã đến trước mình 10 năm, 20 năm nên nghĩ cũng buồn vì mình quá chậm.  Mâm cao cỗ đầy đã dành cho những ai đến trước, còn mình "trâu chậm, uống nước đục"; thấy cũng ngao ngán!  Thế rồi! 10 năm, 15 năm trôi qua, kẻ trước người sau đều giống nhau.  Nhiều khi người đến trước còn chậm tiến hơn kẻ đến sau; anh đừng lo!

 

Anh Thí, miền đất hứa lúc nào cũng rộng mở và có nhiều cơ hội cho tất cả mọi tầng lớp.  Chỉ sợ mình lòng không bền, thiếu kiên nhẫn và không có tinh thần cầu tiến.

 

Thân chúc anh và gia đình luôn luôn an vui, hạnh phúc và vạn sự như ý.  Mong anh ghi nhớ chúng ta cố gắng sẵn sàng cho tương lai các cháu sau này.

 

Thân ái,

 

Từ Đức Tài

Kính gửi quý Sư phụ Lê Đình Ninh và Trần Văn Hiệp

Thân gửi quý Đồng Môn khóa CBSQPB 22

 

Tác Giả Bài Văn
Từ Đức Tài